vanban.org

Bản án 05/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An Tuyên án 28/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Ph m Chí H ph m tội “Trộm c p tài s n”. Xử ph t: Ph m Chí H 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho H án treo, th i gian thử thách là 05 (năm) năm tình từ ngày tuyên án (28/02/2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? p dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 259 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

- 1 -
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Huyện T
Tỉnh L
-----------
Bản án số: 05/2020/HSST
Ngày: 28/02/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – TỈNH L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Năm.

Bà Nguyễn Thị Duyên.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị D Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Th nh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T: Ông Lê Văn Hai – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28/02/2020 t i Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2020/TLST - HS ngày 12/02/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/QĐXXST-HS, ngày 13/02/2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Chí H, sinh năm: 1988, t i: L.

Nơi ĐKTT: ấp Phụng Thớt, xã N, huyện T, tỉnh L; ch ở: ấp Tân Chánh A, xã N, huyện T, tỉnh L; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: làm ruộng; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ph m Văn Hg và bà Nguyễn Thị Khanh; bản thân có vợ tên Châu Thị Ngọc D; có 01 con sinh năm: 2011; tiền án - tiền sự: không; Bị cáo bị t m giữ từ ngày 20/12/2019 đến ngày 27/12/2019 được t i ngo i có m t t i phiên t a.

- Ngư i bị h i: Nguyễn Thị Kim N, sinh năm: 1985 (có m t).

Cư tr : ấp Bảy Mét, xã Kiến Bình, huyện T, tỉnh L.

- Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Châu Thị Ngọc D, sinh năm: 1992 (có m t).

- 2 -

2/ Ph m Văn Hg, sinh năm: 1941 (có m t).

Cùng cư tr : ấp Phụng Thớt, xã N, huyện T, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận t i phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Ph m Chí H và chị Nguyễn Thị Ngoan có quen biết với nhau từ trước qua m ng xã hội Zalo. Ngày 20/11/2019, chị Ngoan rủ H đến chơi t i nhà chị Nguyễn Thị Kim N, ở ấp Bảy Mét, xã Kiến Bình, huyện T, tỉnh L, H đồng ý (chị Ngoan là chị ruột của chị N, đang giữ con cho chị N). Đến khoảng 09 gi cùng ngày, H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream, biển số 62F3- 5983 của ông Ph m Văn Hg là cha bị cáo là chủ sở hữu đi một mình đến nhà chị N, thì chỉ có chị Ngoan và con của chị N ở nhà. Trong l c ở nhà của chị N, H đi ngang ph ng ngủ thấy cửa ph ng không khóa, chỉ khép h nên H đi vào nhìn thấy trên móc treo quần áo gắn ở vách tư ng trong ph ng ngủ có treo 01 t i nilong có đựng tiền, nhưng không biết bao nhiêu, nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lợi dụng l c chị Ngoan đang ở phía sau nhà không để ý nên H lấy 02 xấp tiền trong t i nilong bỏ vào t i quần đi ra ngoài ch y xe ra về. Khi đi khỏi nhà chị N thì H lấy số tiền vừa trộm được ra kiểm tra được là 60.000.000 đồng (gồm: 100 t tiền mệnh giá 500.000 đồng, 98 t tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 t tiền mệnh giá 200.000 đồng). Số tiền trên H bỏ vào t i nilong màu xanh rồi đem về nhà ở ấp Tân Chánh A, xã N, huyện T, tỉnh L cất giấu, tiêu xài.

Đến ngày 20/12/2019, H đến Công an huyện T đầu th trình bày toàn bộ nội dung sự việc ph m tội như đã nêu trên. Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành khám xét t i nơi ở của H t i ấp Tân Chánh A, xã N, huyện T, tỉnh L phát hiện thu giữ được: Tiền Việt 44.500.000 đồng và 01 t i nilong bằng nhựa màu xanh kích thích 22cm x 27cm. H khai nhận số tiền trộm được đã tiêu xài hết 15.500.000 đồng, nhưng không nhớ rõ chi tiết.

Quá trình điều tra và t i phiên t a bị cáo đã nhìn nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình.

T i bản cáo tr ng số 05/CT-VKSTT, ngày 10/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo H về tội “Trộm c p tài s n” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố t i phiên t a vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Trộm c p tài s n” và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50, Điều

- 3 -

65 Bộ luật hình sự. Xử ph t Ph m Chí H từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù, nhưng cho H án treo, th i gian thử thách từ 4 năm đến 05 năm

Đề nghị không áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo theo quy định t i khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự.

Vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 túi nilong bằng nhựa màu xanh kích thước 22cm x 27cm.

Về trách nhiệm dân sự: Hiện N không có yêu cầu gì thêm, nên không đề cập.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, ngư i bị h i và ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo trong l i nói sau cùng xin giảm nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận t i phiên t a, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đ ng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên t a, bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng khác không có ngư i nào có ý kiến ho c khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Do có quen biết trước với chị Nguyễn Thị Ngoan qua m ng xã hội Zalo, nên ngày 20/11/2019 chị Ngoan có rủ bị cáo H đến nhà chị Nguyễn Thị Kim N là em chị Ngoan chơi (do chị Ngoan đang giữ con cho chị N). T i nhà chị N lợi dụng sở hở của chị N, bị cáo H đã lén l t lấy trộm số tiền 60.000.000đ của chị N để trong bọc nylong treo trên móc quần áo trong ph ng ngũ. Nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “trộm cắp tài sản” được quy định t i Điều 173 Bộ luật hình sự.

Số tiền bị cáo chiếm đo t trên 50.000.000 đồng và dưới 200.000.000 đồng nên hành vi ph m tội của bị cáo thuộc trư ng hợp định khung hình ph t theo quy định điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

- 4 -

Hành vi ph m tội của bị cáo được thực hiện do l i cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm ph m đến trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trật tự t i địa phương, xâm ph m đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của ngư i khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi lén l t lấy trộm tài sản của ngư i khác là vi ph m pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội ph m.

Xét về tính tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định t i Điều 52 Bộ luật hình sự: không.

Xét về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định t i Điều 51 Bộ luật hình sự: bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là ph m tội đã tác động gia đình bồi thư ng thiệt h i; ph m tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định t i điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Ngoài ra xét thấy bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, sau khi ph m tội đã đầu thú, đồng th i t i phiên t a, ngư i bị h i có yêu cầu giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo, bị cáo có cha là ông Pham Văn Hg tham gia cách m ng. Do đó bị cáo c n được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo ph m tội có hai tình tiết giảm nhẹ quy định t i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự, có nơi cư tr rõ ràng, có nhân thân tốt. Đối chiếu với các hướng dẫn t i Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán T a án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho H án treo cũng có thể cải t o giáo dục bị cáo trở thành ngư i có ích cho xã hội. Xét thấy bị cáo làm ruộng thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo theo quy định t i khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về tang vật:

- Tiền Việt Nam 60.000.000 đồng. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả l i cho bị h i là chị Nguyễn Thị Kim N; 01 chiếc nhẫn bằng kim lo i màu vàng, đư ng kính 02 cm, trên nhẫn có in chữ “KIM N TH2C

997” thuộc sở hữu của chị Châu Thị Ngọc D. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả l i cho chủ sở hữu. Xét thấy phù hợp với quy định t i Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự , Điều 47 Bộ luật hình sự.

- 01 túi nilong bằng nhựa màu xanh kích thước 22cm x 27cm, H sử dụng để đựng tiền trộm được thu giữ trong quá trình khám xét. Xét thấy giá trị sử dụng

- 5 -

không cao, nên tích thu tiêu hủy. Xét thấy phù hợp với quy định t i Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Riêng đối với xe mô tô hiệu Honda Dream, biển số 62F3- 5983 do ông Ph m Văn Hg là cha bị cáo là chủ sở hữu xe. Bị cáo H mượn đi, sau đó sử dụng vào việc ph m tội ông Hg không biết nên Cơ quan CSĐT không thu giữ xe trên là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: chị N đã nhận l i tài sản bị mất trộm là 60.000.000 đồng, không có yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.

Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

p dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Ph m Chí H ph m tội “Trộm c p tài s n”.

Xử ph t: Ph m Chí H 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho H án treo, th i gian thử thách là 05 (năm) năm tình từ ngày tuyên án (28/02/2020).

Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh L giám sát, giáo dục. Trư ng hợp ngư i được H án treo thay đổi nơi cư tr thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong th i gian thử thách, ngư i được H án treo cố ý vi ph m nghĩa vụ 02 lần trở lên thì T a án có thể quyết định buộc ngư i được được H án treo phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho H án treo.

p dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Về Tang vật: tịch thu tiêu hủy 01 túi nilong bằng nhựa màu xanh kích thước 22cm x 27cm.

Hiện vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện T đang giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 05/QĐ-VKSTT, ngày 10/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- 6 -

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, ngư i bị h i, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có m t biết được quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ