- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| tßa ¸n nh©n d©n HuyÖn Quúnh L¦U- nghÖ an | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/HSST Ngày 15- 01 -2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƢU- NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Đóa.
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Đức Vỹ
2. Bà Đỗ Thị Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện VKSND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Ngân, Chức vụ- Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 140/2019 ngày 26/12/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Chu Trọng H; tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 08/02/1994 tại huyện Ng L, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm Đ, xã Ng Y, huyện Ng L, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; họ và tên cha: Không xác định; họ và tên mẹ: Chu Thị L, sinh năm 1963; anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 30/11/2012 bị TAND huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm 3 tháng tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Ngày 28/11/2014 bị TAND huyện Nghi Lộc xử phạt 08 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; Ngày 30/12/2015 bị TAND thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xử phạt 03 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/9/2018; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ 16/9/2019 cho đến nay. Có mặt.
2. Họ và tên: Cao Văn Th; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 07/03/1994 tại huyện Ng L, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm Đ, xã Ng Y, huyện Ng L, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; họ và tên cha: Cao Văn Th, sinh năm 1969; họ và tên mẹ: Chu Thị H, sinh năm 1970; anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Ngày 15/9/2015, bị Công an phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Ngày 31/08/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng tại Trung tâm giáo dục - Lao động xã hội II Nghệ An; Nhân thân: Ngày 28/11/2014 bị TAND huyện Nghi Lộc xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; Ngày 06/11/2019, bị Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/07/2019 cho đến nay. Có mặt.
- Người bị hại:
1. Anh Cao Đức Ng, sinh năm 1966. Vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm 1, xã D Th, huyện D Ch, tỉnh Nghệ An.
2. Anh Đậu Xuân Ng, sinh năm 1989. Vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm 5, xã H Kh, huyện H Ng, tỉnh Nghệ An.
3. Chị Trần Thị H, sinh năm 1992. Có mặt.
Địa chỉ: Xóm 2, xã Ng S, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
4. Chị Phan Thị H, sinh năm 1996. Vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm 18, xã D Th, huyện D Ch, tỉnh Nghệ An.
5. Chị Cao Thị D, sinh năm 2003. Vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm 12, xã D L, huyện D Ch, tỉnh Nghệ An.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Cao Thị D: Ông Cao Đăng T, sinh năm 1964. Vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm 12, xã D L, huyện D Ch, tỉnh Nghệ An.
- Người làm chứng:
1. Ông Cao Trọng Đ, sinh năm 1955. Vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm Tr S, xã Ng Y, huyện Ng L, tỉnh Nghệ An.
2. Anh Hoàng Trọng H, sinh năm 1982. Vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm B S, xã Ng Y, huyện Ng L, tỉnh Nghệ An.
3. Đặng Văn D, sinh 1982. Vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm 5, xã D Th, D Ch, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2019 đến tháng 9 năm 2019 Chu Trọng H đã một mình thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn các huyện Nghi Lộc, Diễn Châu, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Đồng thời Chu Trọng H đã cùng với Cao Văn Th thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào ngày 23/5/2019, Chu Trọng H đi xe buýt tuyến đường Quốc lộ 1A từ Nghi Lộc đến huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An nhằm mục đích tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi H đi đến địa phận thuộc xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An thì nhìn thấy phía bên phải đường có một đoàn người đang đi đám tang. Thấy vậy, H nảy ra ý định sẽ trộm xe mô tô trong số đoàn người này. Sau đó, H xuống xe buýt rồi đi bộ theo đoàn người đưa tang khoảng 01 km vào khu vực gần nghĩa địa Vườn Pháy, thuộc xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu thì phát hiện có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu vàng đen; Biển kiểm soát 37F1 - 576.93 của anh Cao Đức Ng đang dựng tại mép đường đi vào nghĩa địa Vườn Pháy, trên ổ khóa điện xe mô tô đang cắm chìa khóa. Thấy vậy H đi đến mở khóa xe và điều khiển xe đi đến đoạn đường vắng, tháo kiểm soát 37F1 - 576.93 vứt đi, sau đó H thay biển số giả 37N9 - 6959 vào xe mô tô này và dùng làm phương tiện đi lại cho đến ngày 05/7/2019 thì bị Công an huyện Quỳnh Lưu thu giữ khi H và Cao Văn Th đi trộm cắp tại xóm 2, xã Ngọc Sơn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Vụ thứ hai: Vào chiều ngày 27/6/2019, Chu Trọng H rủ Phạm Đình Tr, sinh 1990, trú tại xóm Chùa, xã Nghi Yên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đi đến biển Cửa Lò chơi. Khi đi H mang theo một chiếc vam phá khóa bỏ vào túi quần rồi điều khiển chiếc xe mô tô đã trộm được của anh Cao Đức Ng (ở Vụ thứ nhất) chở Tr xuống biển Cửa Lò. Khi đi qua Quảng trường thị xã Cửa Lò khoảng 01 km (về hướng Cửa Hội) thì H nói Tr: “Chở em xuống biển đi làm” (Ý là đi trộm cắp tài sản). Lúc này, Tr hiểu ý của H là đi trộm cắp tài sản nên Tr đã từ chối và thả H xuống xe ở gần bãi biển, còn Tr đi xe mô tô của H về nhà. Khi Tr bỏ đi, H đi bộ đến đối diện Cổng khu đô thị mới Cửa Lò thì phát hiện thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu trắng đen, Biển kiểm soát 37N1- 663.76 của anh Đậu Xuân Ng đang dựng ở bãi cát ngoài biển, không có người trông coi nên H đi đến dùng vam phá khóa đem theo phá khóa điện xe mô tô của anh Ng. Sau khi phá được khóa, H điều khiển xe đi đến nhà Đặng Văn D, sinh 1982, trú tại xóm 5, xã Diễn Thành, Diễn Châu, tỉnh Nghệ An rồi gửi xe lại nhà anh D nhưng H không nói cho D biết xe là trộm cắp mà có. Do nghi ngờ chiếc xe H gửi không rõ nguồn gốc nên đến ngày 18/9/2019, anh D đã giao nộp chiếc xe trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An.
Vụ thứ Ba: Vào trưa ngày 05/7/2019, Chu Trọng H rủ Cao Văn Th đi ra huyện Quỳnh Lưu để trộm cắp tài sản thì Th đồng ý. Sau đó, H điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu vàng đen mà H đã trộm của anh Cao Đức Ng trước đó (ở Vụ thứ nhất) chở Th ngồi sau, ở giữa xe để 01 chiếc ba lô màu đen bên trong đựng đồ tư trang cá nhân của H. Khi đi qua ngã ba thuộc địa phận xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu thì H dừng lại để Th đi mua nước và thuốc lá, còn H đi mua một chiếc kéo cắt tôn màu đen, loại to nhằm mục đích để cắt cửa vào nhà dân lấy trộm tài sản rồi bỏ vào ba lô H mang theo. Sau đó, H chở Th tiếp tục đi một đoạn thì thấy một cơ sở thu mua phế liệu nên H đã mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ 01 chiếc máy cắt sắt, màu xanh rồi bỏ vào ba lô nhằm mục đích làm công cụ sử dụng để trộm cắp tài sản. Sau đó H và Th tiếp tục đi ra đến khu vực cầu vượt Yên Lý, thuộc xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu thì H nói Th điều khiển xe chở còn H ngồi sau. Th chở H theo chỉ dẫn của H đi theo đường Quốc lộ 48, khi đi đến ngã ba Tuần, thuộc xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An thì H nói Th rẽ phải theo đường Quốc Lộ 48B hướng xuống xã Ngọc Sơn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Khi Th điều khiển xe đi qua nhà chị Trần Thị H trú tại xóm 2, xã Ngọc Sơn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An thì H phát hiện thấy nhà chị H khóa cửa, nên H nói Thủy quay xe lại để xem nhà có ai không (nhằm mục đích đột nhập vào trộm cắp tài sản). Sau đó H nói Th đi vào con đường đất sát phía bên hông nhà chị H rồi dừng xe ở đó đứng cảnh giới, còn H mang theo chiếc ba lô lẻn vào vườn sau nhà chị H, đi đến cánh cửa tôn phía sau nhà, dùng kéo cắt tôn cắt một ô kích thước (50x50) cm trên cánh cửa rồi chui qua cửa, đột nhập vào sân sau nhà chị H. Sau đó H đi đến cánh cửa phòng bếp dùng tay đẩy mạnh làm cho cánh cửa bung ra rồi đi vào trong nhà. H đi vào phòng ngủ của chị H thì thấy một chiếc két sắt đặt ở góc phòng phía Đông -Bắc, H dùng tay lật úp két sắt xuống nền nhà sau đó lấy máy cắt sắt trong ba lô ra cắm vào ổ điện trong phòng ngủ rồi cắt một ô mặt sau của két sắt. Sau khi cắt két sắt thủng một ô thì H thò tay vào lấy trộm số tiền 451.750.000 đồng của chị H để trong két sắt. Sau khi lấy được tiền, H bỏ tiền vào ba lô cùng với kéo cắt tôn và máy cắt sắt rồi đi ra ngoài sân sau chui qua lỗ cắt cánh cửa tôn trước đó, khi chui qua được nửa người thì chị H về nhà và phát hiện có người đột nhập vào nhà mình trộm tài sản nên đã hô hoán. Sau khi thoát ra ngoài, H mang ba lô bỏ chạy dọc theo đoạn đường đất phía bên nhà chị H. Khi thấy H chạy ra thì Th quay xe lại đón H. Gặp Th, H nói “Quay xe lại đi ra phía cánh đồng”, đồng thời H ngồi lên xe Thủy chở đi. Lúc này, Th cũng nghe thấy tiếng hô trộm nên chở H đi hướng ra cánh đồng thuộc xóm 1, xã Ngọc Sơn, huyện Quỳnh Lưu. Khi đi đến đoạn đường cụt thì xe mô tô không đi được nữa, H cầm theo ba lô chạy bộ nhưng chạy được khoảng 100m thì H vứt ba lô lại do ba lô nặng quá rồi chạy lên đồi trốn thoát. Còn Th, khi thấy H chạy thì bỏ lại chiếc xe mô tô lại rồi chạy theo H được khoảng 7m thì rẽ hướng khác, khi Th chạy qua cánh đồng đến mép đồi keo thì mệt quá nên nằm trốn ở ven đồi và bị người dân bắt giữ. Sau đó người dân đã dẫn giải Cao Văn Th cùng chiếc ba lô màu đen mà Chu Trọng H đã vứt lại về giao nộp cho Công an xã Ngọc Sơn. Quá trình kiểm tra, Cơ quan CSĐT xác định tổng số tiền mà Chu Trọng H và Cao Văn Th đã trộm cắp tại nhà chị Trần Thị H là: 451.750.000 đồng (Bốn trăm năm mốt triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Vụ thứ tƣ: Vào khoảng 15 giờ, ngày 12/9/2019, Chu Trọng H đang ngồi chơi ở khu vực đồi thuộc Bãi Lữ, xã Nghi Yên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thì thấy chị Phan Thị H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA-WAVEALP, màu xanh, đen, bạc, BKS 37F2-514.22 chở theo chị Đặng Thị B đi đến gần khu vực H đang ngồi. Sau đó, chị H và chị B dừng xe bên mép đường rồi đi lên đồi hái quả Sim. Thấy vậy H đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe mô tô này. Sau đó H đi đến chiếc mô tô của chị H rút dây điện phía trước đầu xe rồi nối lại với nhau để mở khóa điện của xe. Sau khi mở được khóa xe, H điều khiển xe mô tô vừa trộm được ra huyện Diễn Châu, thay biển số giả vào chiếc xe mô tô này rồi để sử dụng.
Vụ thứ năm: Sáng ngày 15/9/2019, anh Cao Trọng Đ, sinh 1955, trú tại xóm Trường Sơn, xã Nghi Yên, huyện Nghi Lộc, Nghệ An, gọi điện thoại cho anh Hoàng Trọng H, sinh 1982, trú tại xóm Bắc Sơn, xã Nghi Yên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, nhờ anh H tìm xem có ai có nhu cầu bán xe máy thì bán cho anh Đ một chiếc thì anh H đồng ý. Sau đó, H gọi điện cho Chu Trọng H hỏi: “Mi có xe máy mô khoảng bốn đến năm triệu bán rẻ không? Nếu có thì bán cho ông Đ một chiếc”, nghe vậy thì H nói: “Để tìm xem có không”. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô lắp biển kiểm soát giả 37F1-576.23 mà H đã trộm của chị H (như đã nêu ở Vụ thứ tư) đi một mình dọc theo Quốc lộ 1A từ huyện Diễn Châu vào huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An nhằm mục đích trộm cắp xe máy. Khi đi đến xã Diễn Trung, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An H gặp L (thường gọi là “L V”), trú tại ở xóm 3, xã Nghi Yên, Nghi Lộc, Nghệ An, đang ngồi bên đường quốc lộ 1A, H nói với L: “Lên đây ngồi, em nhờ chạy xe về cho em với” thì L đồng ý rồi ngồi lên xe của H điều khiển. Sau đó, H chở L đến đoạn đường thuộc khu vực bãi cát xã Nghi Tiến, huyện Nghi Lộc thì H xuống xe và nói với L: “Anh chạy xe về nhà, có chi tí nữa em điện thì ra đón em về với”. Sau đó, L điều khiển xe của H đi về, còn H đi bộ dọc đường đê biển thì nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu VIETTHAI - VTWAVES, màu trắng, BKS: 37FA-501.06 của chị Cao Thị D đang dựng bên đường, không có người trông coi, trên ổ khóa điện đang cắm chìa khóa. H đi lại mở chìa khóa điện của xe rồi điều khiển chạy đến nhà Hoàng Trọng H để tìm người bán như đã thỏa thuận với H trước đó. Khi H đến nhà H thì H bảo đi ra bãi đá gặp anh Đ để xem xe, lấy tiền luôn. Sau đó H và H điều khiển xe mô tô mà H vừa trộm được đi ra bãi đá thuộc xã Nghi Yên để gặp Đ. Cùng lúc này, H gọi điện cho L và nói với L đi xe máy ra bãi đá thuộc xã Nghi Yên chở H về. Tại thời điểm này Tổ công tác của Phòng Cảnh sát Hình sự Công an tỉnh Nghệ An đang làm nhiệm vụ tại khu vực bãi đá thuộc xóm Tùng Sơn, xã Nghi Yên, Nghi Lộc, Nghệ An thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có một số đối tượng nam thanh niên đang có biểu hiện nghi vấn giao dịch mua bán xe máy do trộm cắp mà có nên đã đến yêu cầu kiểm tra. Trong lúc sơ hở thì Chu Trọng H đã bỏ chạy trốn, thấy vậy L cũng bỏ chạy trốn luôn và vứt lại hai chiếc xe mô tô mà H đã trộm được của chị Phan Thị H và chị Cao Thị D nêu trên. Sau đó Tổ công tác Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Nghệ An đã lập biên bản sự việc đồng thời thu giữ 02 chiếc xe mô tô trên để điều tra, làm rõ. Đến ngày 16/9/2019, Chu Trọng H đã đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nghệ An xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản ngày 23/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản UBND tỉnh Nghệ An, kết luận giá trị tại thời điểm chiếm đoạt của các xe mô tô do Chu Trọng H trộm cắp như sau:
- 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA-Sirius, màu đen trắng, BKS: 37N1-663.76, đã bị tháo mất biển kiểm soát có mức giá là: 12.000.000 đồng.
- 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA-WAVEALP, màu xanh đen bạc, BKS: 37F2-514.22, có mức giá là: 12.000.000 đồng.
- 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu VIET THAI - VTWAVES, màu trắng, BKS: 37FA-501.06, có mức giá là: 10.000.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 222 ngày 19/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Quỳnh Lưu, kết luận: giá trị của chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA -Sirius, màu vàng - đen, có giá trị: 12.000.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 187 ngày 08/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Quỳnh Lưu xác định: giá trị của chiếc Két sắt nhãn hiệu KOREAN TECHNOLOGY, kích thước (83x50x35) cm, có giá trị tại thời điểm bị làm hư hỏng là 600.000 đồng.
Toàn bộ số tiền 451.750.000đồng mà Chu Trọng H đã trộm cắp tại két sắt nhà chị Trần Thị H được Ngân hàng TMCP chi nhánh Bắc Nghệ An xác định là tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành.
Tổng giá trị tài sản và tiền mà Chu Trọng H đã trộm cắp là: 497.750.000 đồng (Bốn trăm chín bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền mà Cao Văn Th đã thực hiện hành vi trộm cắp cùng với Chu Trọng H là 451.750.000 đồng (Bốn trăm năm mốt triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu Chu Trọng H và Cao Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu số 12/CT-VKS-HS ngày 24/12/2019 đã truy tố Chu Trọng H và Cao Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đánh giá chứng cứ, hành vi phạm tội của các bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Chu Trọng H từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58, Điều 56 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Cao Văn Th từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với 12 tháng tù của bản án số 284/2019/HSST ngày 06/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
Tuyên trả cho chị Trần Thị H số tiền 600.000 đồng do bị cáo Cao Văn Th bồi thường thiệt hại theo biên lai thu tiền số 0006995 ngày 14/01/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
- Đối với 01 (Một) biển số 37N9-6959; 01 (một) biển số 37F1- 576.23 là biển số giả cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) Két sắt nhãn hiệu KOREAN TECHNOLOGY, kích thước két sắt là: (83 x 50 x 35)cm, có dòng chữ màu đỏ SECURITYEAFE nằm phía bên trong phần tay cầm mở khóa và ổ khóa, phía sau lưng của két sắt đã bị cắt phá trên diện kích thước (28 x 19) cm và đã bị đập nát lớp bê tông phía trong không còn giá trị sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Viettel màu đen, MODEL V6214 không có thẻ sim đã bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) máy cắt kim loại màu xanh, nhãn hiệu BOSCH đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc kéo cắt tôn bằng kim loại màu đen dài 46 cm, 01 (một) chiếc ba lô màu đen nhãn hiệu FEN2DY là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) chiếc máy ipad màu bạc có số IMEI: 990002894113412; MODEL: A1460; số SERI: DMDK47V2F192; 02 (hai) chiếc quần sooc màu xanh; 02 (hai) chiếc áo phông ngắn tay màu trắng; 01 (một) chiếc áo sơ mi màu xanh đen; 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai màu xanh; 03 (ba) chiếc quần xịp nam tối màu; 01 (một) đôi tất tay màu hồng chấm đen; 01 (một) chiếc quần đùi màu đen của bị cáo Chu Trọng Hùng không liên quan đến việc phạm tội cần tuyên trả lại cho bị cáo Hùng.
- Đối với số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của cao Văn Th không liên quan đến việc phạm tội cần tuyên trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp tiền án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nói lời sau cùng trước khi nghị án: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, một số bị hại và người làm chứng vắng mặt. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án, công bố lời khai của họ để tranh tụng nên không ảnh hưởng đến hoạt động xét xử vụ án. Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, quyết định xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng là phù hợp với quy định tại các Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Chu Trọng H và Cao Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại, người làm chứng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thể hiện: Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2019 đến tháng 9 năm 2019, Chu Trọng H đã một mình thực hiện 04 vụ trộm cắp xe mô tô của Cao Đức Ng, Đậu Xuân Ng, Phan Thị H, Cao Thị D tại địa bàn các huyện Nghi Lộc, Diễn Châu, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 46.000.000đồng (Bốn mươi sáu triệu đồng).
Ngoài ra, Chu Trọng H đã cùng với Cao Văn Th trộm cắp tiền tại nhà chị Trần Thị H, trú tại xóm 2, xã Ngọc Sơn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, chiếm đoạt số tiền 451.750.000 đồng (Bốn trăm năm mốt triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Như vậy, Chu Trọng H đã thực hiện 05 lần trộm cắp tài sản của người khác có tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 497.750.000 đồng (Bốn trăm chín bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Cao Văn Th đã cùng với Chu Trọng H thực hiện 01 lần trộm cắp tài sản chiếm đoạt số tiền 451.750.000 đồng (Bốn trăm năm mốt triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, do vậy hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu là có căn cứ theo quy định của pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi lén lút lấy trộm tài sản là cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, hành vi này là nguy hiểm cho xã hội. Việc xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội này là cần thiết và cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Về vai trò của 02 bị cáo: Bị cáo Chu Trọng H một mình thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản là 04 chiếc xe mô tô và cùng với Cao Văn Th thực hiện một vụ trộm cắp tài sản là tiền của gia đình chị Trần Thị H. Bị cáo H là người chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội, bị cáo Th là người cảnh giới và giúp sức cho bị cáo H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Như vậy, tính chất và mức độ tham gia thực hiện tội phạm của bị cáo H là nhiều lần, đối với bị cáo Th có vai trò đồng phạm giúp sức với bị cáo H một lần trộm cắp tài sản nên bị cáo H phải chịu mức án cao hơn bị cáo Th.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thấy rằng:
Đối với bị cáo Chu Trọng H đã nhiều lần bị xét xử về tội phạm hình sự.
Ngày 30/11/2012 bị TAND huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm 3 tháng tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 28/11/2014 bị TAND huyện Nghi Lộc xử phạt 08 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Ngày 30/12/2015 bị TAND thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xử phạt 03 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/9/2018.
Bị cáo phạm tội có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên và phạm tội lần này là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại là rất lớn do đó cần phải lên một mức án nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài thì mới có đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tự nguyện ra cơ quan điều tra để đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Đối với Cao Văn Th có nhân thân xấu: Ngày 15/9/2015, bị Công an phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 31/08/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng tại Trung tâm giáo dục- lao động xã hội II Nghệ An. Ngày 28/11/2014 bị TAND huyện Nghi Lộc xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Ngày 06/11/2019, bị Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng chưa chấp hành bản án này.
Trong vụ án này bị cáo đồng phạm giúp sức với bị cáo Chu Trọng H trộm cắp tài sản của chị Trần Thị H với tổng số tiền là 451.750.000 đồng (Bốn trăm năm mốt triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Vì vậy, đối với bị cáo cũng cần phải lên một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại chiếc két sắt cho chị Trần Thị H nên áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp với bản án số 284/2019/HSST ngày 06/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận Long Biên, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án.
Về trách nhiệm dân sự:
Các bị hại anh Cao Đức Ng, anh Đậu Xuân Ng, chị Phan Thị H, chị Cao Thị D đã nhận lại tài sản là xe mô tô của mình bị mất và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên miễn xét.
Bị hại chị Trần Thị H đã nhận lại số tiền 451.750.000 đồng bị mất trộm. Nay chị H yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị chiếc két sắt bị hư hỏng. Quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo Cao Văn Th đã nộp số tiền 600.000 đồng để bồi thường cho chị H nên cần tuyên trả cho chị H số tiền này.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (Một) biển số 37N9-6959; 01 (một) biển số 37F1- 576.23 là biển số giả cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) Két sắt nhãn hiệu KOREAN TECHNOLOGY, kích thước két sắt là: (83 x 50 x 35)cm, có dòng chữ màu đỏ SECURITYEAFE nằm phía bên trong phần tay cầm mở khóa và ổ khóa, phía sau lưng của két sắt đã bị cắt phá trên diện kích thước (28 x 19) cm và đã bị đập nát lớp bê tông phía trong không còn giá trị sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Viettel màu đen, MODEL V6214 không có thẻ sim đã bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) máy cắt kim loại màu xanh, nhãn hiệu BOSCH đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc kéo cắt tôn bằng kim loại màu đen dài 46 cm, 01 (một) chiếc ba lô màu đen nhãn hiệu FEN2DY là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) chiếc máy ipad màu bạc có số IMEI: 990002894113412; MODEL: A1460; số SERI: DMDK47V2F192; 02 (hai) chiếc quần sooc màu xanh; 02 (hai) chiếc áo phông ngắn tay màu trắng; 01 (một) chiếc áo sơ mi màu xanh đen; 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai màu xanh; 03 (ba) chiếc quần xịp nam tối màu; 01 (một) đôi tất tay màu hồng chấm đen; 01 (một) chiếc quần đùi màu đen của bị cáo Chu Trọng H không liên quan đến việc phạm tội cần tuyên trả lại cho bị cáo H.
- Đối với số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Cao Văn Th không liên quan đến việc phạm tội cần tuyên trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
Trong quá trình điều tra, Chu Trọng H còn khai nhận ngoài các vụ trộm cắp tài sản nêu trên thì vào khoảng tháng 4 năm 2019 Hùng còn trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu EXCITER (không nhớ biển số) tại khu vực xã Diễn Hải, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Sau đó H đã bán chiếc xe này cho một nam thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) với số tiền 6.000.000 đồng. Tuy nhiên, đối với chiếc xe mô tô này hiện tại chưa xác định được bị hại, không thu giữ được vật chứng nên chưa có căn cứ để xử lý đối với hành vi trộm cắp xe mô tô này.
Đối với Phạm Đình Tr là người chở Chu Trọng H (trước khi H đi trộm xe anh Đậu Xuân Ng). Tuy nhiên, khi biết H đi trộm cắp tài sản thì Tr không tham gia và không liên quan đến việc trộm cắp của H nên không phạm tội.
Đối với Đặng Văn D là người cho H gửi chiếc xe mô tô trộm cắp được của anh Đậu Xuân Ng. Tuy nhiên, khi anh D cho H gửi xe thì không biết đó là xe do H trộm cắp mà có, mặt khác sau khi D thấy nghi vấn thì đã đem chiếc xe mô tô đó giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An nên không phạm tội.
Đối với Nguyễn Văn L (gọi là “LV”), theo lời khai của Chu Trọng H là có liên quan đến việc nhờ đi xe mô tô cho H như đã nêu trên. Qua xác minh, hiện tại đối tượng này không có mặt tại địa phương, nên chưa có căn cứ để xử lý.
Đối với đối tượng Hoàng Trọng H là người có liên quan việc môi giới cho H bán xe mô tô cho Cao Trọng Đ, tuy nhiên quá trình điều tra ban đầu xác định H không bàn bạc, thống nhất gì với trong việc trộm cắp tài sản. Qua xác minh, các đối tượng này không có mặt tại địa phương, nên chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳnh lưu sẽ xác minh làm rõ, xử lý sau.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1/ Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo: Chu Trọng H 10 (mười) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 16/9/2019.
2/ Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 58; Điều 56 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo: Cao Văn Th 07 (bảy) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với 12 (mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc” của bản án số 284/2019/HSST ngày 06/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 06/07/2019, được trừ thời gian tạm giữ của bản án số 284/2019/HSST ngày 06/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận Long Biên, thành phố Hà Nội từ ngày 28/3/2019 đến ngày 06/4/2019.
3/ Về trách nhiệm dân sự: Tuyên trả cho chị Trần Thị H số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006995 ngày 14/01/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu.
4/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) biển số 37N9-6959; 01 (một) biển số 37F1- 576.23 là biển số giả.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) Két sắt nhãn hiệu KOREAN TECHNOLOGY, kích thước két sắt là: (83 x 50 x 35)cm, có dòng chữ màu đỏ SECURITYEAFE nằm phía bên trong phần tay cầm mở khóa và ổ khóa, phía sau lưng của két sắt đã bị cắt phá trên diện kích thước (28 x 19) cm và đã bị đập nát lớp bê tông phía trong không còn giá trị sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Viettel màu đen, MODEL V6214 không có thẻ sim đã bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) máy cắt kim loại màu xanh, nhãn hiệu BOSCH đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc kéo cắt tôn bằng kim loại màu đen dài 46 cm, 01 (một) chiếc ba lô màu đen nhãn hiệu FEN2DY là công cụ, phương tiện phạm tội.
- Tuyên trả cho bị cáo Chu Trọng H 01 (một) chiếc máy ipad màu bạc có số IMEI: 990002894113412; MODEL: A1460; số SERI: DMDK47V2F192; 02 (hai) chiếc quần sooc màu xanh; 02 (hai) chiếc áo phông ngắn tay màu trắng; 01 (một) chiếc áo sơ mi màu xanh đen; 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai màu xanh; 03 (ba) chiếc quần xịp nam tối màu; 01 (một) đôi tất tay màu hồng chấm đen; 01 (một) chiếc quần đùi màu đen của bị cáo Chu Trọng H không liên quan đến việc phạm tội.
(Các vật chứng có đặc điểm phản ánh như trong biên bản giao nhận vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2019).
- Tuyên trả cho bị cáo Cao Văn Th số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 25 tháng 12 năm 2019 của Công an huyện Quỳnh Lưu, tài khoản số: 3591.0.9014412.00000, nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
5/ Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Chu Trọng H và Cao Văn Th mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4/ Về quyền kháng cáo: Những người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND H.Quỳnh Lưu; - Cơ quan điều tra h.Q/Lưu; - Cơ quan thi hành án hình sự h. Q/Lưu; - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS huyện Q/Lưu; - UBND xã Nghi Yên (để biết); - Lưu Hồ sơ- VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thị Đóa |