vanban.org

Bản án 05/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 07/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! !!!!!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!!!HUYỆN!LỆ!THUỶ! !
!!!!!!!
TỈNH!QUẢNG!BÌNH! !

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HSST
Ngày 07 - 02 - 2020

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!LỆ!THUỶ,!TỈNH!QUẢNG!BÌNH!

- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:"

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà:"Ông Nguyễn Ngọc Sơn"

Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông Võ Xuân Toàn và ông Đỗ Trung Tuân""""

-" Thư" ký" phiên" toà: Bà Đỗ Thị Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình

-"Đại"diện"Viện"kiểm"sát" nhân"dân"huyện"Lệ"Thuỷ,"tỉnh"Quảng"Bình" tham"gia"phiên"toà: Bà Lê Phan Lộc Nhung, Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 07 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2019/TLST-HS ngày 03/12/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HS ngày 02/01/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2020/QĐST-HS ngày 14/01/2020"đối với bị cáo:

Hoàng Văn H, sinh ngày 26 tháng 7 năm 1997, tại xã X, huyện L, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: Đội 1, thôn X, xã X, huyện L, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12;!dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H1, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1974. Tiền sự: Không. Tiền án: Có 02 tiền án: Ngày 18/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Lệ Thuỷ xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 04/8/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Lệ Thuỷ xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; nhân thân: Ngày 27/6/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy xử phạt 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

Bị"hại:"

- Chị Võ Thị L, sinh năm 1983, địa chỉ: Đội 4, thôn L, xã A, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Anh Lê Ngọc B, sinh năm 1965, địa chỉ: Xóm 6, thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Chị Võ Thị N, sinh năm 1966, địa chỉ: Đội 4, thôn L, xã A, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:""

-"Anh Đỗ Văn S, sinh năm 1975, địa chỉ: Đội 1, thôn P, xã A, huyện L, tỉnh Quảng Bình.Vắng mặt.

- Anh Phạm Anh T, sinh năm 1982, địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1982, địa chỉ: Thôn 1 T, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

Người"làm"chứng:""

- Anh Trần Minh T, sinh năm 1998, địa chỉ: Đội 1 thôn A, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 2001, địa chỉ: Đội 5 thôn A, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 06 tháng 8 năm 2019, Hoàng Văn H chở Trần Minh T bằng xe mô tô BKS 73N1-5479 đi từ xã X về xã A. Khi đi đến quán tạp hóa của chị Võ Thị L ở thô L, xã A, huyện L, H dừng xe để mua nước uống, khi đi vào trong quán, H thấy không có người nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H quay trở ra rủ T lấy trộm tài sản, T đồng ý. T đứng bên ngoài giữ xe còn H trực tiếp vào trong quán lấy trộm 01 thùng bia Saigon Lager và 01 thùng nước Trà bí đao Tribeco.

Quá trình điều tra, Hoàng Văn H khai nhận đã thực hiện hai vụ trộm cắp khác, cụ thể: Khoảng 12 giờ ngày 08/8/2019, H cùng với Nguyễn Văn L ở xã L, huyện L trộm tại cửa hàng tạp hóa của chị Võ Thị N ở thôn N, xã A, huyện L 02 thùng bia Saigon Lager và 01 thùng nước ngọt chanh leo Thạch Bích. Khoảng 17 giờ ngày 10/8/2019, H cùng T và L trộm tại quán tạp hóa của anh Lê Ngọc B ở thôn T, xã P, huyện L 02 thùng bia Saigon Lager.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lệ Thủy tạm giữ 04 thùng bia Saigon Lager, 01 thùng nước ngọt chanh leo Thạch Bích và đã trả lại các tài sản trên cho chị Võ Thị N và anh Nguyễn Ngọc B.

Riêng số tài sản trộm tại nhà chị Võ Thị L, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không thu giữ được.

- Về dân sự: Chị Võ Thị L yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tài sản đã lấy trộm.

Tại Kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐG ngày 14/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lệ Thủy kết luận: Tài sản Nguyễn Văn H trộm tại quán tạp hóa của chị Võ Thị L có giá trị 400.000 đồng; trộm tại cửa hàng tạp hóa của chị Võ Thị N có trị giá 630.000 đồng; trộm tại cửa hàng tạp hóa của anh Lê Ngọc B có trị giá 480.000 đồng.

Bản Cáo trạng số: 01/CT-VKSNDLT ngày 02/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thuỷ truy tố bị cáo Hoàng Văn H tội trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Hoàng Văn H từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 589 buộc Hoàng Văn H phải bồi thường cho chị Võ Thị L số tiền 400.000 đồng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết việc làm sai phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ để sớm trở về với gia đình và tu chí làm ăn.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và tang vật vụ án đã thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[3] Bị cáo Hoàng Văn H đã cùng với Trần Minh T, Nguyễn Văn L lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu lén lút lấy trộm bia, nước giải khát tại quán tạp hóa của chị Võ Thị L, anh Lê Ngọc B và chị Võ Thị N; theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lệ Thuỷ, giá trị tài sản H trộm cắp của chị L trị giá 400.000 đồng, anh Bình 480.000 đồng, chị Ninh 630.000 đồng, tổng trị giá 1.510.000 đồng (Một" triệu" năm" trăm" mười" nghìn" đồng). Mặc dù trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nhưng theo Bản án số 21/2017/HSST ngày 04/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, Hoàng Văn H bị kết án 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nhưng trong các ngày 06, 08, 10 tháng 8 năm 2019 tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, cho nên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận Hoàng Văn H phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thuỷ và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có tổng trị giá dưới 2.000.000 đồng, bị cáo đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tình tiết định khung hình phạt tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, do đó bị cáo không phải chịu tình tiết định khung tái phạm, tái phạm nguy hiểm quy định tại Điều 53 và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú quy định tại các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo là thanh niên trưởng thành, có sức khoẻ nhưng lười lao động, đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu có hành vi lén lút trộm cắp hàng hóa của các quán tạp hóa trên địa bàn huyện L; mặc dù tài sản bị cáo trộm cắp mỗi lần có giá trị không lớn nhưng gây tâm lý hoang mang, lo lắng, bất bình trong nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 01 tình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thể hiện ý thức coi thường pháp luật; sau khi phạm tội bị cáo chưa bồi thường thiệt hại cho chị Võ Thị L và bỏ đi khõi nơi cư trú gây kéo dài thời gian, khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khõi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo bị cáo và giáo dục, phòng ngừa chung.

[6] Trong vụ án, Trần Minh T và Nguyễn Văn L tham gia trộm cắp tài sản cùng với Hoàng Văn H nhưng tài sản trộm cắp có giá trị dưới hai triệu đồng nên không phạm tội. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện Lệ Thủy để xử lý hành chính đối với T và L. Đề nghị Công an huyện Lệ Thuỷ xử lý hành chính Trần Minh T và Nguyễn Văn L theo quy định của pháp luật.

Anh Đỗ Văn S, Phạm Anh T và Nguyễn Văn P là những người đã mua bia và nước ngọt do H, T, L bán, nhưng không biết tài sản đó do trộm cắp mà có, mặt khác tài sản đó có giá trị dưới hai triệu đồng nên không phạm tội; Anh Hoàng Công T cho chị Nguyễn Thị K mượn xe mô tô BKS 73N1-5479, Hoàng Văn H tự ý sử dụng xe để đi trộm cắp, anh T và chị K không biết nên không phạm tội.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng theo các tài liệu lưu trong hồ sơ thể hiện: Bị hại, người có quyền lợi liên quan đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với chị Võ Thị L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 400.000 đồng phù hợp với kết luận định giá và tại phiên tòa bị cáo cũng đồng ý bồi thường cho chị L nên cần buộc bị cáo Hoàng Văn H phải bồi thường cho chị Võ Thị L số tiền 400.000 đồng.

[8] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lệ Thủy tạm giữ 04 thùng bia Saigon Lager, 01 thùng nước ngọt chanh leo Thạch Bích và đã trả lại các tài sản này cho chị Võ Thị N và anh Nguyễn Ngọc B phù hợp với Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

!

1/ Căn cứ vào Điều 173 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Hoàng Văn H 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật dân sự xử buộc Hoàng Văn H phải bồi thường cho chị Võ Thị L số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng).

3/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án, xử buộc bị cáo Hoàng Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã nơi cư trú để xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Nơi"nhận:

Cỡ chữ