- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Tấn Th phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D TỈNH KHÁNH HÒA ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/HSST Ngày 11 tháng 02 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D - TỈNH KHÁNH HÒA
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Huỳnh Thị Tín
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thái Thị Đang
2. Ông Đỗ Công Luận
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D - tỉnh Khánh Hòa tham gia
phiên tòa: Ông Hồ Hữu Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2019/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:
Dương Tấn T (tên gọi khác: Hiền Em) - sinh năm 1989, tại Khánh Hòa;
nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Tr, xã Th, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 6/12; con ông Dương Ng (đã chết) và bà Lê Thị Lệ T (sinh năm 1960); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”.
* Bị hại: Ông Nguyễn Thế D, sinh năm 1973, “có mặt”,
Địa chỉ: Tổ dân phố C 2, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
* Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Lê Thị Thu T, sinh năm 1974, “có mặt”,
Địa chỉ: Tổ dân phố C 2, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
2. Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1981, “vắng mặt”,
Địa chỉ: Tổ dân phố C 2, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 01/6/2015, Dương Tấn T đến tiệm cầm đồ Thế D (tại tổ dân phố C 2, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa) do ông Nguyễn Thế D làm chủ, để chuộc lại điện thoại di động hiệu Nokia 625 (T nhờ bạn là ông Nguyễn Ngọc C cầm cố điện thoại vào ngày 19/5/2015). Sau khi giao tiền và nhận máy, T khởi động điện thoại nhưng không được nên báo cho ông D biết. Ông D nói T mang điện thoại đến cửa hàng để kiểm tra. T mang máy điện thoại đi, sau đó quay lại tiệm cầm đồ nói với ông D máy bị hỏng phần mềm, yêu cầu ông D bồi thường tiền sửa chữa nhưng ông D không đồng ý. T mang điện thoại đến Trung tâm bảo hành điện thoại ở thành phố Nha Trang kiểm tra rồi cầm biên bản xác nhận máy bị hỏng quay lại tiệm cầm đồ. Trước khi vào tiệm, T lấy một con dao lưỡi bằng kim loại bỏ vào túi quần, tiếp tục yêu cầu ông D phải đền tiền sửa máy. Ông D không đồng ý nên cả hai cãi nhau. T lấy dao cầm ở tay phải, chồm người đâm ông D, nhưng ông D tránh được, hai bên giằng co. Trong lúc giằng co, T đâm trúng đùi trái và khủy tay phải của ông D gây thương tích. Khi ông D tước được dao thì T bỏ chạy khỏi tiệm cầm đồ. Ngày 10/6/2015, ông Nguyễn Thế D có đơn yêu cầu khởi tố vụ án.
Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận tại bản kết luận giám định số
144/2015/Th.T-PY ngày 30/6/2015: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Thế D là 04%
Sau khi gây thương tích cho ông Nguyễn Thế D, Dương Tấn T bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện D đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can và Quyết định truy nã đối với Dương Tấn T. Ngày 23/9/2019, Dương Tấn T đầu thú. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện D, Dương Tấn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 74/CT-VKSDK ngày 28/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hoà đã truy tố bị cáo Dương Tấn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo điều luật đã viện dẫn trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Tấn T từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Bị cáo nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo hối hận về hành vi vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Bị cáo khai nhận quá trình thực hiện hành vi “Cố ý gây thương tích” đúng như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện D đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên bản Cáo trạng số 74/CT – VKSDK ngày 28/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D là có căn cứ, đúng pháp luật, đủ cơ sở kết luận bị cáo Dương Tấn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Hành vi “Cố ý gây thương tích” nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã
hội, không những đã xâm phạm sức khỏe của bị hại mà còn làm cho tình hình trật tự tại địa phương càng trở nên phức tạp, nên cần phải xử phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, bị cáo không có tiền án và tiền sự, T khẩn khai báo, ăn năn hối
cải, đầu thú. Bị cáo bồi thường cho bị hại 5.000.000 đồng (Măm triệu đồng) nhưng ông Nguyễn Thế D không nhận vì bị cáo khó khăn về kinh tế và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo sớm trở thành người có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về Vật chứng vụ án: 01 chiếc điện thoại di động Nokia 625 màu đen
là tài sản của Dương Tấn T nhưng bị cáo đề nghị không nhận lại vì không còn giá trị nên tịch thu, tiêu hủy; 01 con dao cán bằng gỗ dài 08 cm có quấn băng keo màu đen, lưỡi bằng kim loại dài 13 cm là công cụ phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy, (theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 09/12/2019 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện D).
Về án phí: Bị cáo Dương Tấn T phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt: Bị cáo Dương Tấn T 09 (Chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2. Về Vật chứng vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) chiếc điện thoại di động Nokia 625 màu đen và 01 con dao cán bằng gỗ dài 08 cm có quấn băng keo màu đen, lưỡi bằng kim loại dài 13 cm (theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 09/12/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện D).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Dương Tấn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện D; - Công an huyện D; - Chi cục THADS huyện D; - Bị cáo, bị hại; - Lưu: Hồ sơ, án văn. 51 của Bộ luật hình sự. Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Yêu cầu bồi thường: Xem xét tại phiên tòa (nếu có). màu đen (Trường hợp bị cáo không nhận lại điện thoại thì tịch thu, tiêu hủy). Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao cán bằng gỗ có quấn băng keo màu đen, lưỡi bằng kim loại dài 13 cm. án phí hình sự sơ thẩm. TAND H D TỈNH KHÁNH HÒA PHIẾU ĐỀ XUẤT HƯỚNG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN Vụ án thụ lý số: 86/2019/HS-ST ngày 02/12/2019, xử ngày 14/01/2020 Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Tr, xã Th, huyện D, Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn:7/12; Con ông Dương Nguyệt (đã chết) và bà Lê Thị Lệ Thanh (sinh năm 1960); Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú. * Bị hại: Anh Nguyễn Thế D, sinh năm 1973 Địa chỉ: Tổ dân phố C 2, thị trấn D, huyện D, * Người làm chứng: 1. Bà Nguyễn Lê Thị Thu Thủy, sinh năm 1974 2. Ông Nguyễn Ngọc Cường, sinh năm 1981 Địa chỉ: Tổ dân phố C 2, thị trấn D, huyện D, Khánh Hòa NỘI DUNG VỤ ÁN phố C 2, thị trấn D, huyện D) do anh Nguyễn Thế D (sinh năm 1973) làm chủ, để chuộc lại điện thoại di động hiệu Nokia 625 (trước đó, D nhờ bạn cầm cố điện thoại vào ngày 19/5/2015). Sau khi giao tiền và nhận máy, T khởi động điện thoại nhưng không được nên báo cho anh D biết. D nói T mang điện thoại đến cửa hàng để kiểm tra. T mang máy điện thoại đi, sau đó quay lại tiệm cầm đồ nói với anh D máy bị hỏng phần mềm, yêu cầu anh D bồi thường tiền sửa chữa nhưng D không đồng ý. T mang điện thoại đến Trung tâm bảo hành điện thoại ở T phố Nha Trang kiểm tra rồi cầm biên bản xác nhận máy bị hỏng quay lại tiệm cầm đồ. Trước khi vào tiệm, T lấy một con dao lưỡi bằng kim loại bỏ vào túi quần, tiếp tục yêu cầu anh D phải đền tiền sửa máy. Anh D không đồng ý nên cả hai cãi nhau. T lấy dao cầm ở tay phải, chồm người đâm anh D, nhưng D tránh được, hai bên giằng co. Trong lúc giằng co, T đâm trúng đùi trái và khủy tay phải của D gây thương tích. Khi D tước được dao thì T bỏ chạy khỏi tiệm cầm đồ. Ngày 10/6/2015, Nguyễn Thế D có đơn yêu cầu khởi tố vụ án. pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Thế D là 04% khỏi địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện D đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can và Quyết định truy nã đối với Dương Tấn T. Ngày 23/9/2019, Dương Tấn T đầu thú. khai nhận hành vi phạm tội. nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hoà đã truy tố: bị cáo Dương Tấn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. NỘI DUNG ĐỀ XUẤT HƯỚNG GIẢI QUYẾT: khẩn khai báo, ăn năn hối cải) khoản 1 và khoản 2 (không có tiền án, tiền sự, đầu thú) Điều 51 đối với bị cáo. Bộ luật Tố tụng hình sự, 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Yêu cầu bồi thường: Xem xét tại phiên tòa (nếu có). màu đen (Trường hợp bị cáo không nhận lại điện thoại thì tịch thu, tiêu hủy). Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao cán bằng gỗ có quấn băng keo màu đen, lưỡi bằng kim loại dài 13 cm. án phí hình sự sơ thẩm. Ý kiến của Lãnh đạo | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Tín NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Xử phạt: Bị cáo Dương Tấn T ………………………….. tù về tội “Cố ý Vật chứng:Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động hiệu NOKIA 625 Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Dương Tấn T (tên gọi khác: Hiền Em)- sinh năm 1989, tại Khánh Hòa; Chiều ngày 01/6/2015, Dương Tấn T đến tiệm cầm đồ Thế D (tại tổ dân Tại bản kết luận giám định số 144 ngày 30/6/2015 của Trung tâm Sau khi gây thương tích cho anh Nguyễn Thế D, Dương Tấn T bỏ trốn Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện D, Dương Tấn T đã Tại bản cáo trạng số: 74/CT-VKSDK ngày 28/11/2019 Viện kiểm sát Điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s (T Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, và Điều 106, Điều 331, Điều 333 của Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số Xử phạt: Bị cáo Dương Tấn T từ 1 năm đến 01 năm 3 tháng tù về tội “Cố Vật chứng:Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động hiệu NOKIA 625 Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền Thẩm phán |