- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Danh N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Danh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/HS-ST Ngày 08 - 01 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Hiền
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Hiền
2. Ông Đinh Công Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Trần Quang Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 192/2019/HSST ngày 17 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:
Phạm Danh N, tên gọi khác: Không, sinh ngày 10/8/1987 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố N, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Chỗ ở: Như trên; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; cha là Phạm Văn S, sinh năm 1964; Mẹ là bà Lê Thị L, sinh năm 1961; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; Vợ là Hà Bảo H, sinh năm 1986 (đã ly hôn); bị cáo có 01 con sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 20/9/2019. Hiện bị cáo đang bị tam giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã Phú Mỹ.
Bị cáo được dẫn giải trước phiên tòa.
Bị hại: Anh Võ Trường T, sinh năm 1992, địa chỉ: khu phố P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt)
Người làm chứng: Chị Trương Thị X, sinh năm: 1995. Địa chỉ: xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/9/2018, Phạm Danh N điều khiển xe mô tô BKS: 60L9-6781 lưu thông trên QL51 theo hướng từ Đồng Nai về Vũng Tàu. Khi đi đến khu vực thuộc khu phố Hải Sơn, phường Phước Hòa, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu thì N dừng lại đi vệ sinh. Lúc này, N phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RSX BKS: 66F1 - 070.45 của anh Võ Trường T đang dựng trước cửa tiệm tiệm thuốc tây Tâm Đức không có người trông coi (chìa khóa vẫn đang cắm ở ổ khóa) nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. N lén lút tiến lại gần, ngồi lên chiếc xe mở khóa định nổ máy chạy đi thì bị anh T phát hiện, tri hô cùng quần chúng nhân dân bắt giữ được N cùng tang vật.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 109/KL-HĐĐG-TTHS ngày 22/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự Uỷ ban nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xác định: Trị giá chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đỏ-đen, BKS: 66F1-070.45 có giá trị: 9.200.000 đồng (Chín triệu, hai trăm ngàn đồng).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Phú Mỹ, Phạm Danh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Về vật chứng: Theo quyết định xử lý vật chứng số 98/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 11/10/2018 và Biên bản trao trả tài sản ngày 12/10/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ đã giao trả 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đỏ-đen, BKS: 66F1-070.45, số khung: 432XBY646635, số máy: 43E-6355600 cho bị hại anh Võ Trường T; 01 chiếc xe mô tô BKS: 60L9-6781 đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản chờ xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, anh Võ Trường T không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số: 04/CT- VKSPM ngày 16/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Phạm Danh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai của mình tại cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi trái pháp luật của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và phát biểu luận tội, phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả do bị cáo gây ra, cũng như đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đề nghị, Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Danh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h,i,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo N từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng wawe, màu xanh, biển kiểm soát 60L9-6781, số khung: không xác định; Số máy HD1P52FM1*00100412, xe không kính, không bửng
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1Về tố tụng:
Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan điều tra, viện kiểm sát đã tuân thủ nghiêm thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định tại các điều 88, 98, 105 Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra không có bức cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
2 Về tội danh và điều luật áp dụng:
Lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo N phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai của bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/09/2018 tại khu phố Hải Sơn, phường Phước Hòa, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Phạm Danh N đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô BKS: 66F1-070.45 trị giá 9.200.000 đồng (chín triệu, hai trăm ngàn đồng) của anh Võ Trường T
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật, tuy nhiên do bản tính thích hưởng thụ nhưng lại lười lao động, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng.Vì thế,với tính chất, mức độ phạm tội như trên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội bằng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo, giúp bị cáo nhận ra lỗi lầm của mình đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Do vậy bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô kiểu dáng Wawe, màu xanh, biển kiểm soát 60L9-6781, số khung: không xác định; Số máy HD1P52FM1*00100412, xe không kính, không bửng, là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Danh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Phạm Danh N 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/9/2019.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không
3.Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô kiểu dáng Wawe, màu xanh, biển kiểm soát 60L9-6781, số khung: không xác định; Số máy HD1P52FM1*00100412, xe không kính, không bửng
(Vật chứng trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 28 ngày 16/12/2019).
4.Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Danh N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thị xã Phú Mỹ;
- Công an thị xã Phú Mỹ;
- CCTHADS thị xã Phú Mỹ;
- Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
( Đã ký)
- TAND tỉnh BR-VT’
- VKSND tỉnh BR-VT;
- PV06 Công an tỉnh BR-VT;
- UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú;
- Bị cáo; các đương sự; Lưu HS vụ án
Văn Thị Hiền THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh BR-VT;
- VKSND tỉnh BR-VT;
- VKSND thị xã Phú Mỹ;
- Công an thị xã Phú Mỹ;
- Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
- Phòng PV06 công an tỉnh BR-VT;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Ly HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nơi nhận:
- TAND tỉnh BR-VT;
- VKSND tỉnh BR-VT;
- VKSND thị xã Phú Mỹ;
- Công an thị xã Phú Mỹ;
- Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
- Phòng PV27 công an tỉnh BR-VT;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Ly
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nơi nhận:
- TAND tỉnh BR-VT;
- VKSND tỉnh BR-VT;
- VKSND thị xã Phú Mỹ;
- Công an thị xã Phú Mỹ;
- Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
- Phòng PV27 công an tỉnh BR-VT;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Ly
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Tân Tân; - Công an huyện Tân Tân; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - Phòng PV27 công an tỉnh BR-VT; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. Hội thẩm nhân dân tòa | Nguyễn Thị Ly Thẩm phán - Chủ tọa phiên |