vanban.org

Bản án 05/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 06/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ngh quy t số 02/2018/N -HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Tuyên bố các b cáo Lộc C N và Lộc Sà T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt b cáo Lộc C N 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày b cáo đi ch p hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Cố ý gây thương tích đối với bị cáo Lộc Cô N và đồng bọn - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…"
  • Tòa quyết gì? Ngh quy t số 02/2018/N -HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HS-ST
Ngày: 06-3-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Chí Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Thanh Học.

Ông Phan Văn Huy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Văn Ni – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 02 và ngày 06 tháng 3 năm 2020, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2019/TLST-HS, ngày 27 tháng 12 năm 2019 theo uy t đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/ ĐXXST-HS, ngày 10 tháng 02 năm 2020 đối với các b cáo:

1. Lộc Cô N. Sinh năm: 1993 tại H – Kiên Giang. Nơi cư trú: Tổ 9, Khu phố 3, phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Ngư phủ; trình độ học v n: 4/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; t n giáo: Đạo Phật; quốc t ch: Việt Nam; con ông Lộc Th và bà Th K; vợ, con: không có; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: tốt; b cáo được tại ngoại. (có mặt)

2. Lộc Sà T. Tên gọi khác: C. Sinh ngày 25/9/1996 tại H – Kiên Giang. Nơi cư trú: Tổ 9, Khu phố 3, phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Ngư phủ; trình độ học v n: 9/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; t n giáo: Đạo Phật; quốc t ch: Việt Nam; con ông Lộc Th và bà Th K; vợ, con: không có; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: tốt; b cáo được tại ngoại. (có mặt)

- Người bào chữa: Ông Đoàn C ng T, là Luật sư của Văn phòng luật sư Đoàn C ng T thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Kiên Giang bào chữa cho các b cáo Lộc Cô N và Lộc Sà T. (có mặt)

- Bị hại:

1. Anh Lý Văn S, sinh năm 1997. Đ a chỉ: Tổ 3, Khu phố 3, phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. (có mặt)

2. Anh Lộc Ái X, sinh năm 2001. Đ a chỉ: Tổ 4, Khu phố 3, phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lộc Th, sinh năm 1951. Đ a chỉ: Tổ 9, Khu phố 3, phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. (có mặt)

- Người làm chứng:

1. Lộc T2; (có mặt)

2. Lộc T3; (có mặt)

3. Lộc C; (có mặt)

4. Th Kim L; (có mặt)

5. Lộc Đ; (vắng mặt)

6. Danh uốc Th; (có mặt)

7. Th ; (có mặt)

8. Lộc T4; (có mặt)

9. Khui Sóc C; (có mặt)

10. Trần Văn B; (vắng mặt)

11. Lý Văn M. (có mặt)

- Người phiên dịch: Ông Danh M. Nơi c ng tác: Trường phổ th ng dân tộc nội trú H, tỉnh Kiên Giang. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và di n bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo nội dung bản Cáo trạng số: 01/CT-VKSHT ngày 26 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang đã truy tố Lộc Cô N, Lộc Sà T về hành vi cố ý gây thương tích như sau:

Khoảng 17 giờ, ngày 08/10/2018 tại Khu phố 3, phường P, thành phố H, Lộc T3 đi bán cá ngựa về gặp Lý Văn S chỉ tay khiêu khích. Lộc T3 về kể lại cho Lộc C N, Lộc Sà T, Lộc C và Lộc T2 nghe và rủ nhau đi tìm S thì cả nhóm đ ng ý. Lộc C N đi vào nhà b p l y cây dao quắm gi u trong người. Khi đ n nhà thì kh ng gặp Lý Văn S nên cả nhóm bỏ về. Lộc Sà T điều khiển xe máy chở Lộc C N và Lộc T2 chạy trước, khi đ n ngã ba đường Tỉnh lộ 28 - đường vào bãi trước khu du l ch M thì gặp Lý Văn S điều khiển xe máy chở Lộc Ái X chạy đ n. Lộc Sà T điều khiển xe áp sát chặn đầu xe của Lý Văn S, Lộc C N dùng dao chém trúng vào bàn tay trái của Lộc Ái X gây thương tích, Lộc Ái X bỏ chạy. Lộc Sà T thì dùng tay kẹp cổ Lý Văn S, Lộc C N dùng dao đánh trúng vào vùng lưng nhiều cái, Lý Văn S vùng vẫy thoát ra bỏ chạy; Lộc Sà T và Lộc Cô N đuổi theo, Lộc C N ném cây dao trúng vào cẳng tay trái Lý Văn S gây thương tích.

Lý Văn S điều tr tại Trung tâm y t thành phố H đ n ngày 11/10/2018 ra viện; còn Lộc Ái X được đưa đ n Trung tâm y t thành phố H băng bó v t thương r i chuyển đ n Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang điều tr đ n ngày 12/10/2018 ra viện. Ngày 29/11/2018, Lộc Ái X và Lý Văn S làm đơn yêu cầu khởi tố đối với Lộc C N.

Tại Bản k t luận giám đ nh pháp y về thương tích số 73/KL-PY ngày 09/01/2019 của Trung tâm pháp y- Sở y t tỉnh Kiên Giang k t luận thương tích đối với Lý Văn S, (BL 90-92).

1. D u hiệu chính qua giám đ nh:

Sẹo mềm vùng lưng - vai phải, lưng phải, lưng trái và cẳng tay trái.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 03% (Ba phần trăm).

3. Vật gây thương tích: Vật sắc.

Tại Bản k t luận giám đ nh pháp y về thương tích (bổ sung) số 637/KL-PY ngày 27/11/2019 của Trung tâm pháp y - Sở y t tỉnh Kiên Giang k t luận:

Vật chứng: Cây dao gửi giám đ nh gây được thương tích ở vùng lưng- vai phải, lưng phải, lưng trái và cẳng tay trái của Lý Văn S (BL 97-99)

Tại bản k t luận giám đ nh pháp y về thương tích số 74/KL-PY ngày 09/01/2019 của Trung tâm pháp y- Sở y t tỉnh Kiên Giang k t luận thương tích đối với Lộc Ái X (BL 93-95).

1. D u hiệu chính qua giám đ nh:

Sẹo xơ cứng bàn tay trái, đứt gân duỗi ngón II, III, IV, V gãy xương bàn II-III, xương đốt gần ngón IV- V tay trái. Hiện tại còn hạn ch chức năng vận động g p – duỗi khớp bàn ngón II, III, IV, V.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 25% (Hai mươi lăm phần trăm).

3. Vật gây thương tích: Vật sắc.

Vật chứng trong vụ án

1) Một cây dao quắm bằng kim loại màu đen, chiều dài 51cm, lưỡi dao sắc, mũi dao có hình bầu rộng 08cm (dao đã qua sử dụng);

2) Một đoạn cây tre dạng trụ tròn, chiều dài 88cm, đường kính rộng 4,5cm.

Các vật chứng nêu trên hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thành phố H.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với b cáo Lộc C N, thay đổi khoản truy tố đối với b cáo Lộc Sà T và đề ngh Hội đ ng xét xử:

- Tuyên bố các b cáo Lộc C N, Lộc Sà T phạm Tội cố ý gây thương tích.

- Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt b cáo Lộc C N mức án từ 15 đ n 18 tháng tù.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, Điều 65, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt b cáo Lộc Sà T mức án từ 06 đ n 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đ n 18 tháng.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề ngh buộc các b cáo có trách nhiệm b i thường thiệt hại cho các b hại theo quy đ nh của pháp luật.

- Về vật chứng: Đề ngh t ch thu, tiêu hủy một đoạn cây tre dạng trụ tròn, chiều dài 88cm, đường kính rộng 4,5cm. Đối với một cây dao quắm bằng kim loại màu đen, chiều dài 51cm, lưỡi dao sắc, mũi dao có hình bầu rộng 08cm thuộc quyền sở hữu của ng Lộc Th nên cần trao trả lại cho ng Lộc Th.

- Về án phí: Buộc các b cáo ch u án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy đ nh.

Tại phiên tòa, các b cáo đều yêu cầu để cho người bào chữa trình bày lời bào chữa cho các b cáo.

Tại phiên tòa, Luật sư Đoàn C ng T trình bày lời bào chữa cho các b cáo như sau: Luật sư thống nh t quan điểm luận tội và đề ngh của Kiểm sát viên về việc đề ngh áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự đối với b cáo Lộc Sà T, đây là việc thể hiện được tính nhân đạo và phù hợp tình ti t khách quan của vụ án th ng qua việc xét hỏi, làm rõ tại phiên tòa. Tuy nhiên, Luật sư có những quan điểm, ý ki n đối với vụ án như sau:

Về tố tụng: Điều 243 của Bộ luật Tố tụng hình sự có quy đ nh Bản cáo trạng phải nêu nguyên nhân và điều kiện dẫn đ n hành vi phạm tội và tình ti t khác có ý nghĩa đối với vụ án, nhưng Cáo trạng của Viện kiểm sát không nêu là có khi m khuy t. Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy đ nh về việc khởi tố vụ án theo yêu cầu của b hại, đơn yêu cầu khởi tố của các b hại chỉ yêu cầu khởi tố đối với Lộc C N mà kh ng có yêu cầu khởi tố đối với Lộc Sà T. Trong khi tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề ngh áp dụng khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự đối với b cáo Lộc Sà T, đây thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của b hại quy đ nh tại Điều 155 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Vì vậy, đề ngh Hội đ ng xét xử kh ng xem xét trách nhiệm hình sự đối với b cáo Lộc Sà T.

Về chứng cứ: Các b cáo và những người làm chứng là anh em ruột của các b cáo đều khai thống nh t khi hai xe áp sát vào nhau thì b hại X cầm ống tuýp sắt đánh các b cáo trước. Tại phiên tòa, người làm chứng bà Th Kim L khai b hại X có cầm khúc tre to bằng ngón tay, dài từ 1 đ n 2 mét, vậy khúc tre đó ở đâu, có hay kh ng việc b hại t n c ng trước, vì về tâm lý thì một người khi b t n c ng sẽ có phản ứng phòng vệ lại. Lời khai của b hại X có mâu thuẫn, lúc thì khai b chém trước khi té, có khi khai b chém sau khi té.

Về nguyên nhân dẫn đ n việc đánh nhau: Vụ việc xu t phát từ b hại S, vì năm 2015 b hại S từng có hành vi đánh bốn người trong gia đình của các b cáo, trong đó có b cáo Lộc C N. Hậu quả là cả bốn người phải đi điều tr tại bệnh viện. Vụ việc đã có quy t đ nh khởi tố vụ án hình sự nhưng sau đó kh ng hiểu lý do gì mà Cơ quan điều tra lại tạm đình chỉ vụ án. Điều này cho th y hai bên đã có xung đột từ trước nhưng cơ quan C ng an kh ng giải quy t đ n nơi đ n chốn nên mâu thuẫn kéo dài, khi gặp nhau ngoài đường, b hại S có hành vi dùng tay khiêu khích người nhà b cáo dẫn đ n việc đánh nhau.

Về tình ti t đ nh khung tăng nặng đối với b cáo Lộc C N: Viện kiểm sát đề ngh áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là tình ti t phạm tội hai lần trở lên đối với b cáo Lộc C N là kh ng đúng. Bởi vì, phạm tội hai lần trở lên thì mỗi lần phạm tội đều phải độc lập, kh ng cùng lúc về mặt thời gian. Vì vậy, kh ng thể áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự đối với b cáo Lộc C N.

Về tình ti t giảm nhẹ: Ngoài tình ti t giảm nhẹ mà Kiểm sát viên đã đề ngh , các b cáo đều là người dân tộc Khơ me, học v n th p nên trình độ hiểu bi t pháp luật còn hạn ch ; cha của các b cáo – ng Lộc Th là người có c ng với cách mạng, nên cần xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho các b cáo.

Với những căn cứ, lập luận nêu trên, đề ngh Hội đ ng xét xử cân nhắc giảm nhẹ tối đa cho b cáo Lộc C N, bởi những nguyên nhân trước đây kh ng được giải quy t triệt để, b hại S có hành vi khiêu khích trước nên dẫn đ n xảy ra vụ án. Đối với b cáo Lộc Sà T, đề ngh Hội đ ng xét xử mi n hình phạt hoặc áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để chuyển sang hình phạt khác kh ng phải là giam giữ, vì vai trò của b cáo T kh ng đáng kể. N u Hội đ ng xét xử xác đ nh b hại có hành vi t n c ng trước thì đề ngh tuyên các b cáo kh ng phạm tội do các b cáo chỉ có hành vi phòng vệ. Đ ng thời đề ngh Hội đ ng xét xử tuyên trong bản án ki n ngh Cơ quan điều tra phục h i điều tra đối với vụ án cố ý gây thương tích xảy ra vào năm 2015 do b hại S đã gây ra cho gia đình b cáo.

Tại phiên tòa, các b hại anh S và anh X đều yêu cầu xử lý các b cáo theo quy đ nh của pháp luật và yêu cầu b cáo Lộc C N phải b i thường các khoản thiệt hại mà các b hại đã làm bảng kê có trong h sơ vụ án. Riêng anh X yêu cầu b i thường thêm khoản tiền tổn th t tinh thần là hai triệu đ ng.

Tại phiên tòa, ng Lộc Th trình bày đối với vật chứng là cây dao do Hội đ ng xét xử quy t đ nh, giao trả hoặc t ch thu để tiêu hủy ng đều kh ng có ý ki n.

Kiểm sát viên có ý ki n đối đáp lại quan điểm của Luật sư như sau:

Về khi m khuy t của cáo trạng: Tuy cáo trạng kh ng ghi rõ nguyên nhân, điều kiện dẫn đ n hành vi phạm tội của b cáo nhưng cũng đã có gián ti p đề cập nguyên nhân có mâu thuẫn từ trước. Vì vậy Viện kiểm sát đã kh ng áp dụng tình ti t tăng nặng có tính ch t c n đ đối với b cáo.

Mặc dù quá trình điều tra, b cáo Lộc C N kh ng thừa nhận có gây thương tích cho anh S, nhưng qua lời khai của các b cáo và những người làm chứng đều thể hiện chỉ có Lộc C N là người dùng dao, người làm chứng anh Lộc T3 cũng khai Lộc C N l y dao đánh S. K t luận giám đ nh cũng thể hiện vật chứng là cây dao gây thương tích được cho các v t thương của anh S. Vì vậy, có cơ sở xác đ nh thương tích của anh S là do b cáo Lộc C N trực ti p gây ra.

Về việc b hại Sơn kh ng có yêu cầu khởi tố đối với Lộc Sà T, đơn yêu cầu khởi tố của anh S ban đầu chỉ yêu cầu khởi tố Lộc C N, nhưng qua điều tra xác đ nh được Lộc Sà T có hành vi kẹp cổ anh S cho Lộc C N đánh gây thương tích nên Lộc Sà T là đ ng phạm với Lộc C N với vai trò giúp sức.

Đối với việc các b cáo và những người làm chứng là anh em ruột của b cáo đều khai b hại X có cầm ống tuýp sắt t n c ng các b cáo trước nhưng kh ng có chứng cứ để chứng minh và các b cáo cũng kh ng có b thương tích gì. Tại phiên tòa, bà Th Kim L khai có th y b hại Xuân cầm đoạn tre to bằng ngón tay, dài từ 1 đ n 2 mét, đây là cần câu cá mà các b hại trên đường đi câu cá về thì b chặn đánh.

Về việc đề ngh áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự đối với b cáo Lộc C N, tình ti t phạm tội nhiều lần đã được hướng dẫn tại Ngh quy t số 01/2006/N -HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đ n nay chưa có hướng dẫn khác thay th nên còn giá tr áp dụng tương tự. Vì vậy, hành vi của b cáo gây thương tích cho anh X và anh S đều đủ y u tố c u thành tội phạm độc lập của tội Cố ý gây thương tích đối với từng b hại, kh ng nh t thi t phải khác thời điểm, nên b cáo Lộc C N phạm tội với tình ti t đ nh khung phạm tội hai lần trở lên là hoàn toàn phù hợp và đúng quy đ nh của pháp luật. Do các b cáo đã nộp tiền khắc phục một phần thiệt hại cho các b hại vào ngày 03/3/2020 nên đề ngh Hội đ ng xét xử áp dụng thêm tình ti t giảm nhẹ quy đ nh tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho các b cáo.

Luật sư tranh luận lại như sau: Giữ nguyên quan điểm bào chữa nêu trên. N u áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự đối với Lộc Sà T là thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của b hại, trong khi b hại S không có yêu cầu khởi tố với b cáo Lộc Sà T. Vì vậy, kh ng đặt ra v n đề xem xét trách nhiệm hình sự đối với b cáo Lộc Sà T. Tình ti t phạm tội nhiều lần phải là phạm tội ở hai vụ khác nhau, kh ng phải cùng một lúc nên kh ng thể áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự đối với b cáo Lộc C N. Thống nh t việc Kiểm sát viên bổ sung các tình ti t giảm nhẹ mới và xem xét đề ngh giảm mức hình phạt cho các b cáo.

B cáo nói lời nói sau cùng: Các b cáo đều nói xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận đ nh như sau:

Về hành vi của b cáo: Tại phiên tòa, các b cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. ua xem xét các lời khai của các b cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa và lời khai của những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án và chứng minh tại phiên tòa, nên Hội đ ng xét xử có đủ cơ sở k t luận: Vào khoảng 17 giờ, ngày 08/10/2018, tại Khu phố 3, phường P, thành phố H, Lộc Sà T điều khiển xe máy chở Lộc C N và Lộc T3 tìm Lý Văn S để giải quy t mâu thuẫn. Khi th y Lý Văn S điều khiển xe máy chở Lộc Ái X, Lộc Sà T điều khiển xe áp sát chặn đầu xe của Lý Văn S, sau đó Lộc C N dùng dao chém trúng vào bàn tay trái của Lộc Ái X gây thương tích 25%; còn Lý Văn S b Lộc Sà T dùng tay kẹp cổ cho Lộc C N dùng dao đánh trúng vào vùng lưng và sau đó Lộc C N rượt theo và dùng dao ném trúng cẳng tay trái của anh S gây thương tích 03%. uá trình điều tra, Lộc C N kh ng thừa nhận có hành vi dùng dao đánh vào vùng lưng, rượt và ném dao trúng cẳng tay trái của anh S, nhưng qua di n bi n vụ án, k t quả giám đ nh thương tích và vật gây thương tích cùng những lời khai của các b cáo và những người làm chứng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử có cơ sở khẳng đ nh thương tích ở vùng lưng và cẳng tay trái của anh S là do b cáo Lộc C N dùng dao trực ti p gây nên. Hành vi của Lộc C N đã c u thành Tội cố ý gây thương tích được quy đ nh tại điểm c, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, còn hành vi của Lộc Sà T đã c u thành Tội cố ý gây thương tích được quy đ nh tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Cụ thể:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

……

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.…”

Về tội danh và điều khoản truy tố: Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố các b cáo về Tội cố ý gây thương tích là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật. Việc truy tố b cáo Lộc C N theo quy đ nh tại điểm c, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn phù hợp. Riêng đối với b cáo Lộc Sà T b truy tố cùng với Lộc C N với vai trò đ ng phạm theo điểm c, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp. Bởi theo các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án, di n bi n hành vi phạm tội và k t quả tranh luận tại phiên tòa thể hiện việc Lộc C N tự gi u cây dao quắm đem theo và khi Lộc Sà T chặn đầu xe của anh Lý Văn S thì Lộc C N cầm dao chém anh Lộc Ái X là ngoài ý thức chủ quan của Lộc Sà T. Lộc Sà T lu n khẳng đ nh việc Lộc C N chém Lộc Ái X thì Lộc Sà T không hay bi t, chỉ sau khi k t thúc vụ việc thì mới nghe Lộc C N kể lại. Ngay từ đầu, các b cáo chỉ muốn tìm anh Lý Văn S để giải quy t mâu thuẫn, việc anh Lộc Ái X ng i sau xe do anh S điều khiển và b Lộc C N chém gây thương tích là ngoài ý muốn của Lộc Sà T. Theo lời khai của b cáo Lộc C N và những người làm chứng là anh, em ruột của b cáo Lộc Cô N cùng đi tìm anh S đều khai nhận anh Lộc Ái X cầm ống tuýp đánh về phía Lộc C N trước nên Lộc C N mới dùng dao đánh lại. Tuy nhiên đây chỉ là lời khai một chiều của anh, em các b cáo trong khi các b hại đều phủ nhận và cũng kh ng có người nào khác chứng ki n cũng như kh ng có chứng cứ chứng minh. Hơn nữa, người làm chứng anh Lộc C tự nhặt ống tuýp sắt đem về nhà c t và sau đó giao nộp cho cơ quan C ng an mà kh ng phải do cơ quan có thẩm quyền thu giữ tại hiện trường theo trình tự thủ tục luật đ nh. Vì vậy kh ng có cơ sở ch p nhận lời khai nại nêu trên của các b cáo. Do đây là vụ án đ ng phạm mang tính ch t giản đơn, các b cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành, giúp sức. Lộc C N là người trực ti p gây thương tích cho anh Lộc Ái X nên b cáo Lộc C N phải ch u trách nhiệm đối với thương tích của anh X. Căn cứ khoản 4 Điều 17 của Bộ luật Hình sự, b cáo Lộc Sà T kh ng phải ch u trách nhiệm đối với hành vi vượt quá của b cáo Lộc C N gây thương tích cho anh X mà chỉ phải ch u trách nhiệm đối với thương tích của anh Lý Văn S. Vì vậy, Hội đ ng xét xử xét th y hành vi của b cáo Lộc Sà T chỉ phạm vào điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Cho nên tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thay đổi quan điểm truy tố đối với b cáo Lộc Sà T là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Luật sư bào chữa cho các b cáo nêu quan điểm cho rằng không xem xét trách nhiệm hình sự đối với b cáo Lộc Sà T vì b hại S kh ng có yêu cầu khởi tố đối với b cáo là kh ng phù hợp. Lúc đầu anh S chỉ có đơn yêu cầu khởi tố đối với Lộc C N là bởi vì anh S xác đ nh thương tích của bản thân là do Lộc Cô N gây nên. ua điều tra mới xác đ nh được Lộc Sà T đ ng phạm với Lộc C N trong việc gây thương tích cho anh S với vai trò giúp sức. Luật sư lập luận cho rằng kh ng có căn cứ áp dụng tình ti t phạm tội hai lần trở lên được quy đ nh tại điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự đối với b cáo Lộc C N. Hội đ ng xét xử xét th y b cáo Lộc C N thực hiện hành vi cố ý gây thương tích đối với từng b hại đã đủ y u tố c u thành tội phạm độc lập nên b cáo phải ch u trách nhiệm hình sự với tình ti t đ nh khung tăng nặng phạm tội hai lần trở lên. Luật sư cho rằng b hại S có hành vi dùng tay khiêu khích trước, b hại X dùng ống tuýp t n c ng các b cáo trước nhưng đây đều chỉ là lời khai một chiều của các b cáo và anh, em ruột của b cáo mà kh ng có chứng cứ gì chứng minh. Luật sư cũng nêu nguyên nhân, điều kiện dẫn đ n hành vi phạm tội của b cáo là do hai bên đã có mâu thuẫn từ năm 2015 mà chưa được giải quy t triệt để. Tuy nhiên, vì hai bên có mâu thuẫn với nhau từ trước nên đại diện Viện kiểm sát kh ng đề ngh áp dụng tình ti t tăng nặng phạm tội có tính ch t c n đ đối với các b cáo là hoàn toàn phù hợp. Đối với việc Luật sư ki n ngh Cơ quan điều tra phục h i điều tra vụ án xảy ra vào năm 2015 do anh S gây ra cho gia đình b cáo không thuộc thẩm quyền xem xét của Hội đ ng xét xử trong vụ án này. Với những phân tích nêu trên, Hội đ ng xét xử kh ng có cơ sở ch p nhận những lời bào chữa trên của Luật sư.

Xét tính ch t, mức độ phạm tội của các b cáo: Hành vi của các b cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực ti p xâm phạm đ n sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì mâu thuẫn trong cuộc sống mà các b cáo sẵn sàng sử dụng bạo lực, dùng dao là hung khí nguy hiểm để đánh, chém các b hại gây thương tích, trong khi việc giải quy t mâu thuẫn, b t đ ng có thể thực hiện bằng lời nói, hòa giải hoặc bằng biện pháp ôn hòa khác. Các b cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách có chủ tâm và ý thức, các b cáo r t xem thường sức khỏe của người khác, hành xử bạo lực và xem thường pháp luật. Hành vi của các b cáo còn làm ảnh hưởng đ n trật tự tr an tại đ a phương, gây hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân. B cáo Lộc C N dùng dao gây thương tích cho anh X với tỷ lệ thương tật đ n 25% và cho anh S với tỷ lệ thương tật 03%, khung hình phạt tù từ 02 năm đ n 06 năm, thuộc trường hợp nghiêm trọng. Đối với b cáo Lộc Sà T cùng với b cáo Lộc C N dùng dao gây thương tích cho anh S với tỷ lệ thương tật 03%, khung hình phạt tù từ 06 tháng đ n 03 năm, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, tính ch t, mức độ phạm tội của b cáo Lộc C N cao hơn b cáo Lộc Sà T. Các b cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng kh ng có bàn bạc kỹ lưỡng, câu k t chặt chẽ, phân c ng vai trò cụ thể nên chỉ là đ ng phạm giản đơn.

Xét về nhân thân: Tài liệu về lý l ch thể hiện các b cáo có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án, tiền sự.

Về tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ:

Đối với b cáo Lộc C N: B cáo kh ng có tình ti t tăng nặng. Về các tình ti t giảm nhẹ: Tại phiên tòa, b cáo thừa nhận hành vi phạm tội, có thái độ thành khẩn khai báo, trong thời gian Hội đ ng xét xử ngh án, b cáo đã tự nguyện nộp số tiền 15.000.000 đ ng tại Cơ quan thi hành án dân sự nhằm khắc phục một phần thiệt hại cho b hại X và cũng thể hiện được thái độ ăn năn hối cải của b cáo; Sau khi b truy nã, b cáo đã đ n cơ quan C ng an đầu thú; B cáo là người dân tộc Khmer, có trình độ học v n th p, khả năng am hiểu pháp luật còn hạn ch ; Cha ruột của b cáo ( ng Lộc Th) là người có c ng với cách mạng, là người trực ti p tham gia chi n tranh bảo vệ Tổ quốc được Bộ Tư lệnh uân khu 9 ra uy t đ nh số 015/ Đ-BTL ngày 08/5/2014 về việc thực hiện ch độ trợ c p một lần, nên Kiểm sát viên đề ngh Hội đ ng xét xử áp dụng cho b cáo tình ti t giảm nhẹ được quy đ nh tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là phù hợp nên cần ch p nhận.

Đối với b cáo Lộc Sà T: B cáo kh ng có tình ti t tăng nặng. Về các tình ti t giảm nhẹ: Tại phiên tòa, b cáo đã thành khẩn khai báo, trong thời gian Hội đ ng xét xử ngh án, b cáo đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đ ng tại Cơ quan thi hành án dân sự nhằm khắc phục một phần thiệt hại cho b hại S và cũng thể hiện được thái độ ăn năn hối cải của b cáo; B cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; B cáo là người dân tộc Khmer, có trình độ học v n th p, khả năng am hiểu pháp luật còn hạn ch ; Cha ruột của b cáo ( ng Lộc Th) là người có c ng với cách mạng nên cần áp dụng các tình ti t giảm nhẹ cho b cáo được quy đ nh tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự như đề ngh của v đại diện Viện kiểm sát.

Về áp dụng hình phạt: Xét th y cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi của các b cáo sao cho vừa đảm bảo tính giáo dục, vừa răn đe phòng ngừa chung. Đối với b cáo Lộc Sà T có nhiều tình ti t giảm nhẹ và kh ng có tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự. B cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, b cáo là đ ng phạm trong vụ án với vai trò kh ng đáng kể, nên kh ng cần thi t cách ly b cáo khỏi xã hội cũng đảm bảo cho việc giáo dục, cải tạo b cáo thành c ng dân tốt, bi t t n trọng pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội. Căn cứ hướng dẫn tại Ngh quy t số 02/2018/N -HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đ ng xét xử xét th y có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với b cáo T như đề ngh của đại diện Viện kiểm sát, nhằm thể hiện chính sách khoan h ng của pháp luật. Đối với b cáo Lộc C N có nhân thân tốt, có nhiều tình ti t giảm nhẹ và kh ng có tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong đó có ít nh t 02 tình ti t giảm nhẹ quy đ nh tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cần áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt b cáo một hình phạt dưới mức th p nh t của khung hình phạt được áp dụng, nhằm đảm bảo quyền được hưởng đầy đủ các tình ti t giảm nhẹ của b cáo. Hội đ ng xét xử ch p nhận mức án đề ngh đối với b cáo Lộc Cô N như ý ki n của Kiểm sát viên tại phiên tòa, cần cách ly b cáo Lộc C N khỏi đời sống xã hội trong một thời gian đủ để cải tạo b cáo thành c ng dân tốt, bi t t n trọng pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về b i thường thiệt hại: uá trình điều tra và tại phiên tòa, anh Lộc Ái X yêu cầu b cáo Lộc C N b i thường tổng cộng 102.000.000 đ ng, trong đó có 2.000.000 đ ng là tiền tổn th t tinh thần; Anh Lý Văn S yêu cầu b cáo Lộc C N b i thường 9.451.000 đ ng. Tại phiên tòa, b cáo Lộc C N đ ng ý b i thường cho b hại từ 30 đ n 40 triệu đ ng nhưng đ n khi ch p hành xong hình phạt mới có thể đi làm ki m tiền b i thường.

Đối với thiệt hại của anh Lộc Ái X: Theo bảng kê số tiền chi phí (bút lục 283) để yêu cầu các b cáo b i thường là quá cao và kh ng phù hợp nên Hội đ ng xét xử sẽ tính lại căn cứ theo quy đ nh tại Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Số tiền có hóa đơn chứng từ hợp lệ (bút lục 270-282, 288-298) là 7.452.652 đ ng (trong đó, chi phí điều tr là 6.542.652 đ ng, 13 vé xe đi tái khám x 70.000 đ ng = 910.000 đ ng). Tiền xe c p cứu 500.000 đ ng từ Hà Tiên đ n Rạch Giá, tuy b hại kh ng cung c p được hóa đơn, chứng từ nhưng đây là chi phí hợp lý cho việc cứu chữa nên cần ch p nhận. Anh X nhập viện điều tr v t thương từ ngày 08/10/2018 đ n ngày 12/10/2018 là 05 ngày, nên thu nhập b m t do nằm viện điều tr là 05 ngày. Anh X khai trước khi b thiệt hại làm nghề đánh bắt ghẹ thuê được trả lương 350.000 đ ng/ngày nhưng kh ng có gì chứng minh mức thu thập. Tuy nhiên nghề của anh X là loại lao động phổ th ng, kh ng ổn đ nh. Theo C ng văn số 04/CV-LĐTBXH ngày 10/02/2020 của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố H phúc đáp C ng văn của Tòa án về cung c p th ng tin đối với mức thu nhập bình quân của một người lao động phổ th ng trong thời điểm hiện nay trên đ a bàn Hà Tiên là mức lương tối thiểu vùng II, tương ứng số tiền 3.920.000 đ ng/tháng, trung bình là 131.000 đ ng/ngày. Tuy nhiên, tính luôn chi phí ăn uống, b i dưỡng cần ch p nhận thu nhập b m t một ngày là 200.000 đ ng x 05 ngày bằng 1.000.000 đ ng. Chi phí của người chăm sóc (mẹ b hại) được tính là 200.000 đ ng x 05 ngày bằng 1.000.000 đ ng. Sau khi ra viện, b hại cần thời gian h i phục sức khỏe và b m t thu nhập được tính trong thời gian là 60 ngày x 200.000 đ ng bằng 12.000.000 đ ng. Tiền tổn th t tinh thần theo yêu cầu của anh X là 2.000.000 đ ng. Như vậy, tổng số tiền thiệt hại của anh X được ch p nhận là: 7.452.652 đ ng + 500.000 đ ng + 1.000.000 đ ng + 1.000.000 đ ng + 12.000.000 đ ng + 2.000.000 đ ng = 23.952.652 đ ng. Thiệt hại của anh X do b cáo Lộc C N gây ra nên cần buộc b cáo Lộc C N phải có trách nhiệm b i thường số tiền trên cho anh X. B cáo Lộc C N đã nộp số tiền 15.000.000 đ ng tại Cơ quan thi hành án dân sự để b i thường thiệt hại cho anh X, số tiền còn lại là 8.952.652 đ ng buộc b cáo phải b i thường ti p cho anh X.

Đối với thiệt hại của anh Lý Văn S: Theo bảng thống kê số tiền chi phí (bút lục 299) để yêu cầu các b cáo b i thường là chưa phù hợp nên Hội đ ng xét xử sẽ tính lại căn cứ theo quy đ nh tại Điều 589 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Số tiền có hóa đơn chứng từ hợp lệ (bút lục 303-305, 307) là 1.814.544 đ ng (trong đó, chi phí điều tr là 999.544 đ ng, chi phí sửa xe là 815.000 đ ng do Lộc Sà T áp sát đầu xe của anh S gây hư hỏng). Anh S nhập viện điều tr v t thương từ ngày 08/10/2018 đ n ngày 11/10/2018 là 04 ngày, nên thu nhập b m t do nằm viện điều tr là 04 ngày. Anh S khai trước khi b thiệt hại làm nghề ngư phủ, thu nhập mỗi ngày được 400.000 đ ng nhưng kh ng có gì chứng minh mức thu thập. Tuy nhiên nghề của anh S là loại lao động phổ th ng. Cũng như đã phân tích ở đoạn [7.1], tính lu n chi phí ăn uống, b i dưỡng cần ch p nhận thu nhập b m t một ngày là 200.000 đ ng x 04 ngày bằng 800.000 đ ng. Chi phí của người chăm sóc được tính là 200.000 đ ng x 04 ngày bằng 800.000 đ ng. Sau khi ra viện, b hại cần thời gian h i phục sức khỏe và b m t thu nhập, theo mức độ thương tích được tính trong thời gian là 10 ngày x 200.000 đ ng bằng 2.000.000 đ ng. Tại phiên tòa, anh S kh ng yêu cầu b cáo b i thường tiền tổn th t tinh thần nên Hội đ ng xét xử ghi nhận. Như vậy, tổng số tiền thiệt hại của anh S được ch p nhận là: 1.814.544 + 800.000 đ ng + 800.000 đ ng + 2.000.000 đ ng = 5.414.544 đ ng. Thiệt hại của anh S do các b cáo Lộc C N và Lộc Sà T cùng gây ra nên cần buộc các b cáo liên đới b i thường số tiền trên cho anh S. B cáo Lộc Sà T đã nộp số tiền 5.000.000 đ ng tại Cơ quan thi hành án dân sự để b i thường thiệt hại cho anh S, số tiền còn lại là 414.544 đ ng buộc các b cáo phải b i thường ti p cho anh S.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Cần t ch thu tiêu hủy: Một đoạn cây tre dạng trụ tròn, chiều dài 88cm, đường kính rộng 4,5cm; Trao trả cho ng Lộc Th, là chủ sở hữu: Một cây dao quắm bằng kim loại màu đen, chiều dài 51cm, lưỡi dao sắc, mũi dao có hình bầu rộng 08cm (dao đã qua sử dụng).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Ngh quy t số 326/2016/UBTV H14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ uốc hội: Mỗi b cáo phải ch u 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm. Về án phí dân sự sơ thẩm: B cáo Lộc C N phải ch u án phí có giá ngạch 5% trên số tiền phải b i thường cho b hại anh X, số tiền án phí là 1.197.600 đ ng (23.952.652 x 5%); Các b cáo Lộc C N và Lộc Sà T cùng ch u án phí có giá ngạch trên số tiền b i thường cho anh S số tiền là 300.000 đ ng, mỗi b cáo ch u 150.000 đ ng.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quy t đ nh tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các điều 134, 17, 38, 47, 51, 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

- Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Các điều 584, 585, 586, 587, 589, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điều 23 của Ngh quy t số 326/2016/UBTV H14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ uốc hội;

- Ngh quy t số 02/2018/N -HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

1. Tuyên bố các b cáo Lộc C N và Lộc Sà T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt b cáo Lộc C N 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày b cáo đi ch p hành án.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt b cáo Lộc Sà T 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/03/2020). Giao b cáo cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp b cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy đ nh tại khoản 1, 2 Điều 68, khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quy t đ nh buộc người được hưởng án treo phải ch p hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về b i thường thiệt hại:

- Buộc b cáo Lộc C N phải b i thường cho anh Lộc Ái X số tiền 23.952.652đ (Hai mươi ba triệu chín trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm năm mươi hai đ ng). B cáo Lộc C N đã nộp số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đ ng) theo Biên lai thu tiền số 00361 ngày 03/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Kiên Giang, số tiền còn lại là 8.952.652đ (Tám triệu chín trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm năm mươi hai đ ng) b cáo Lộc C N phải b i thường ti p cho anh X.

- Buộc các b cáo Lộc C N và Lộc Sà T phải liên đới b i thường cho anh Lý Văn S số tiền 5.414.544đ (Năm triệu bốn trăm mười bốn nghìn năm trăm bốn mươi bốn đ ng). B cáo Lộc Sà T đã nộp số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đ ng) theo Biên lai thu tiền số 00360 ngày 03/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Kiên Giang, số tiền còn lại là 414.544đ (Bốn trăm mười bốn nghìn năm trăm bốn mươi bốn đ ng) các b cáo Lộc C N và Lộc Sà T phải b i thường ti p cho anh S.

3. Về xử lý vật chứng:

- T ch thu tiêu hủy: Một đoạn cây tre dạng trụ tròn, chiều dài 88cm, đường kính rộng 4,5cm.

- Trao trả cho ng Lộc Th, là chủ sở hữu: Một cây dao quắm bằng kim loại màu đen, chiều dài 51cm, lưỡi dao sắc, mũi dao có hình bầu rộng 08cm (dao đã qua sử dụng).

Các vật chứng nêu trên hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H theo uy t đ nh chuyển vật chứng số 01/ Đ-VKSHT ngày 26/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/12/2019 giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H.

4. Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các b cáo Lộc C N và Lộc Sà T, mỗi b cáo nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đ ng).

- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc b cáo Lộc C N nộp 1.347.600đ (Một triệu ba trăm bốn mươi bảy nghìn sáu trăm đ ng); b cáo Lộc Sà T nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đ ng).

5. uyền kháng cáo: Các b cáo, các b hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quy t đ nh được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng ch thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ