vanban.org

Bản án 05/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 16/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đình Nhân - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HS-ST
Ngày 16-01-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Miện

Ông Nguyễn Đắc Liệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Minh Hải – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 257/2019/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/HS-ST-QĐXX ngày 02 tháng 01 năm 2020, đối với bị cáo:

LÊ ĐÌNH NH (tên gọi khác: Tr), sinh ngày 05-01-1991 tại tỉnh Bình Thuận; Hộ khẩu thường trú: Thôn PH, xã TP, thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: Không có chỗ ở ổn định; Nghề nghiệp: Đi biển; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Lê Đình Nh, sinh năm 1968; Mẹ: Bùi Thị Thu A, sinh năm 1966; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt: Ngày 09-10-2019 (Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1995; Nơi cư trú: 12 BPC, phường H, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 08-10-2019, Lê Đình Nh thuê phòng trọ số 103 tại nhà nghỉ Mai Phương, địa chỉ: 12 PBC, phường H, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để ở. Vào sáng ngày 09-10-2019, anh Nguyễn Thanh H ở phòng số 104 bên cạnh phòng của Nh đi xuống dưới tầng trệt và có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone X của mình trên giường trong phòng nhưng không khóa cửa. Lúc này, Nh đi ra khỏi phòng thì phát hiện thấy tài sản của anh H sơ hở nên nảy sinh ý định trộm cắp. Nh đi vào phòng 104 lấy chiếc điện thoại trên cho vào túi quần đi ra ngoài. Khi anh H lên phòng nghi ngờ Nh lấy điện thoại của mình nên đã cùng ông Nguyễn Thanh H là bố ruột của anh H đuổi theo khi đến gần khu vực Hoa Tiêu Vũng Tàu thì giữ được Nh, phát hiện điện thoại của anh H trong túi quần của Nh nên đã trình báo công an phường H, TP Vũng Tàu. Tại cơ quan Công an, Lê Đình Nh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo biên bản xác định giá trị tài sản số 144/BB - PTCKH ngày 14-11-2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP Vũng Tàu xác định: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone X màu bạc trị giá 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng)

Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho anh Nguyễn Thanh H. Anh H đã nhận tài sản và không có ý kiến gì thêm.

Bản cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 16-12-2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Lê Đình Nh về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy t ố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa Lê Đình Nh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của Nh và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào sáng ngày 09-10-2019, tại nhà nghỉ Mai Phương, địa chỉ 12 PBC, phường H, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Lê Đình Nh đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone X trị giá 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng) của anh Trần Thanh H. Vì vậy, hành vi Lê Đình Nh thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản công dân, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương, gây tâm lý bức xúc cho nhân dân trong cộng đồng dân cư. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐỊNH:

1. Tuyên bố : LÊ ĐÌNH NH (tên gọi khác: Tr) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: LÊ ĐÌNH NH (tên gọi khác: Tr) 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 10 năm 2019.

3. Án phí: LÊ ĐÌNH NH (tên gọi khác: Tr) phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ