- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Thái H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ –TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/HS-ST Ngày: 19-02-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG H – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hạ Tuấn và ông Đặng Viết Côi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng H tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thuyên -Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Ứng H, TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Chu Thái H, sinh năm 1979; Nơi ĐKHKTT: Thôn D, xã T, huyện Ư, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Huy T1 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị L; vợ: Nguyễn Thị T2, con: 02 con (lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009).
Tiền án: Ngày 02/6/2017, bị Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà, Hà Nội xử
phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/11/2017;
Ngày 17/10/2018, bị Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà, Hà Nội xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/4/2019.
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 01/9/2011, bị Chủ tịch UBND xã T ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Ngày 15/11/2011, bị UBND huyện Ứng Hoà áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, ngày 07/11/2013 chấp hành xong về địa pH.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Ứng H, sau chuyển Trại giam số 2 Công an Thành phố Hà Nội từ ngày 19/11/2019 đến nay. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc C1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Hà Nội – chi nhánh 7(có mặt)
* Bị hại: Chị Lê Thị Thu H – sinh năm 1989 (vắng mặt)
HKTT: Thôn T, xã Đ huyện Ư, TP Hà Nội
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị T3 – sinh năm 1983 (có mặt)
HKTT: Thôn D, xã T, huyện Ư Hà Nội
* Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn O – sinh năm 1963 (vắng mặt)
HKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Ư, TP Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11h00 ngày 11/7/2019, Chu Thái H - sinh năm 1979, ở D, T, Ư điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 33P5 - 9605 đi xem có ai để tài sản sơ hở thì lấy trộm. Hoà điều khiển xe đi đến xóm 3, thôn Tứ Kỳ, Đồng Tân, Ứng H, Hà Nội, khi đi qua nhà chị Lê Thị Thu H - sinh năm 1989 phát hiện thấy cửa cổng mở, trong nhà chỉ có cháu Nguyễn Hà P - sinh năm 2013, (con gái chị H) đang ngồi chơi ở phòng khách. H dừng xe quan sát thấy ở ngõ xóm không có ai nên đã xuống xe đi vào trong nhà hỏi cháu P: “Có mẹ ở nhà không?”, cháu P trả lời: “Không”. H nhìn thấy ở sát dệ tường phòng khách có một chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Samsung loại Galaxy Tab A8.0 màu đen đang cắm sạc pin. H đi vào trong phòng khách lợi dụng lúc P đang mải chơi đồ chơi không để ý, H dùng tay rút dây sạc máy tính và lấy đút vào cạp quần phía trước bụng rồi chạy ra ngoài. Lúc này cháu P3 phát hiện và hô hoán lên: “Thằng kia nó lấy trộm điện thoại rồi”. H chạy ra nổ máy xe đi về phía đầu ngõ. Lúc này, ông Nguyễn Văn Oánh - sinh năm 1963, là ông nội của cháu P nhà ở bên cạnh nghe thấy tiếng cháu P hô thì chạy ra đuổi theo H nhưng không kịp. Chu Thái H, sau khi lấy được chiếc máy tính bảng thì đi thẳng về nhà, Hoà lấy máy tính bảng ra để xem, quá trình sử dụng H đánh rơi chiếc máy tính bảng xuống đất nên màn hình bị vỡ hỏng. Sợ bị phát hiện, Hoà đã lấy quần áo để đi trốn thì chị Nguyễn Thị T3 - sinh năm 1983 (vợ của Chu Thái H) thấy H chuẩn bị quần áo thì chị T3 hỏi H: “Anh đi đâu thế”. H nói: “Tao vừa lấy trộm cái máy tính bảng bên Tứ Kỳ, có người đuổi theo nhưng không kịp, giờ tao phải đi một thời gian sợ công an nó hỏi đến”. Sau đó H đi bộ ra đường tỉnh lộ 428, trên đường đi qua cánh đồng thôn Ngọc Động, PH Tú, Ứng H thì H ném chiếc máy tính bảng xuống dệ đường rồi đi lên Cao Bằng, đến ngày 18/11/2019, Hoà về nhà. Biết không thể che dấu được hành vi phạm tội của mình, ngày 19/11/2019 Chu Thái H đến Công an đã xin đầu thú và khai nhận toàn bộ nội dung vụ án.
Vật chứng thu giữ:
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SADOKA màu nâu biển kiểm soát 33P3-9605, số máy 5A115740, số khung 5A015740 đã cũ do Chu Thái H tự nguyện giao nộp.
- 01 giấy đăng ký xe mô tô của xe biển kiểm soát 33P3-9605 do chị Nguyễn Thị T3 (vợ của Chu Thái Hoà) giao nộp.
- Đối với chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Samsung loại Galaxy Tab A8.0 (2017), sau khi lấy trộm được H đã làm hỏng nên mang đi vứt tại cánh đồng thôn Ngọc Động, PH Tú, Ứng H, Hà Nội, Cơ quan điều tra đã phối hợp với chính quyền địa pH truy tìm nhưng không thấy.
Ngày 01/8/2019 cơ quan CSĐT đã ra quyết định trưng cầu định giá tài sản đối với chiếc máy tính bảng Samsung Galaxy Tab A8.0 (2017). Kết quả tại bản kết luận định giá tài sản số 54 ngày 08/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Ứng Hoà kết luận: chiếc máy tính bảng Samsung Galaxy Tab A 2017, màu đen, không lắp sim, đã qua sử dụng có trị giá là 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng).
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 08/CT-VKS ngày 20 tháng 01 năm 2020 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng H đã truy tố bị cáo Chu Thái H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của BLHS.
Tại phiên toà: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo H từ 30 đến 36 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo H phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 2.800.000đ. Về vật chứng: trả lại cho chị T3 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SADOKA màu nâu biển kiểm soát 33P3-9605, số máy 5A115740, số khung 5A015740 đã cũ và 01 giấy đăng ký xe mô tô của xe biển kiểm soát 33P3-9605. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Đồng ý về mặt tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo là hộ nghèo để giảm nhẹ hình phạt dưới mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ và tài liệu, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: ngày 11/7/2019, Chu Thái H, ở D, T, Ứng Hoà điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 33P5 - 9605 đi xem có ai để tài sản sơ hở thì lấy trộm, khi đi đến nhà chị Lê Thị Thu H, ở xóm 3, thôn Tứ Kỳ, Đồng Tân, Ứng H, Hà Nội; thấy cửa cổng mở, Hoà đi vào trong nhà thấy cháu Nguyễn Hà PH còn nhỏ đang ngồi chơi ở phòng khách. H lén lút đi vào lấy trộm chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Samsung loại Galaxy Tab A8.0 (2017) màu đen của chị H trị giá 2.800.000 đồng.Bị cáo Chu Thái Hoà có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án số 79 ngày 17/10/2018, đã xác định bị cáo “Tái phạm”, tính đến ngày phạm tội 11/7/2019, chưa được xoá án tích. Do vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Chu Thái Hoà đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, thuộc trường hợp định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét, hành vi phạm tội của bị cáo Chu Thái H đã thực hiện là nguy hiểm, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, đến trật tự công cộng mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội ở nhiều địa pH. Bản thân bị cáo đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo không lấy đó là bài học để chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật mà còn phạm tội. Do đó phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới phản ánh đúng tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải ; gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bố bị cáo là người có công với cách mạng do đó Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với chị Nguyễn Thị T3, là vợ của Chu Thái Hoà. Ngày 11/7/2019, sau khi Hoà trộm cắp máy tính bảng đem về nhà, có nói cho chị T3 biết việc Hoà vừa thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” bị người dân phát hiện đuổi nên phải bỏ trốn. Do Hoà phạm tội nghiêm trọng, T3 lại là vợ của Hoà, căn cứ Điều 19 Bộ luật hình sự hành vi của chị T3 không cấu thành tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 390 Bộ luật hình sự, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: do không thu hồi được chiếc máy tính bảng nên chị Lê Thị H đề nghị Chu Thái H phải bồi thường lại số tiền 2.800.000đ.Vì vậy, buộc bị cáo H phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Lê Thị H 2.800.000đ (hai triệu tám trăm nghìn đồng).
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu SADOKA màu nâu, biển kiểm soát 33P3-9605, số máy 5A115740, số khung 5A015740 đã cũ là pH tiện H sử dụng để đi trộm cắp tài sản ngày 11/7/2019; 01 giấy đăng ký xe mô tô của xe biển kiểm soát 33P3-9605 do chị T3 – vợ bị cáo nộp; Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứng Hoà điều tra làm rõ nguồn gốc chiếc xe trên là ông Nguyễn Xuân Dương - sinh năm: 1958 ở Đống Long, H Lâm, Ứng H, Hà Nội (là bố vợ của Chu Thái H). Năm 2012 ông Dương đã cho vợ chồng H để làm pH tiện sử dụng. Đây là tài sản chung của vợ chồng, việc Hoà dùng xe để đi trộm cắp tài sản chị T3 không biết nên cần trả lại cho chị T3 chiếc xe mô tô và giấy đăng ký xe nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333BLTTHS năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 46, 47 của BLHS;
Căn cứ Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS.
Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 và Điều 357 Bộ luật dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. T3 bố bị cáo Chu Thái H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt Chu Thái H 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ 19/11/2019.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Chu Thái H phải bồi thường cho chị Lê Thị Thu H số tiền 2.800.000đ (Hai triệu tám trăm tám nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Xử lý vật chứng: Trả lại chị Nguyễn Thị T3 01 xe mô tô nhãn hiệu SADOKA màu nâu, biển kiểm soát 33P3-9605, số máy 5A115740, số khung 5A015740 đã cũ và 01 giấy đăng ký xe mô tô của xe biển kiểm soát 33P3-9605. (Tình trạng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà ngày 05/02/2020)
5. Về án phí: Bị cáo Chu Thái H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Bà trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày T3 án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND huyện Ứng Hoà; - Công an huyện Ứng H; - Chi cục THADS Ứng Hoà; - UBND xã nơi bị cáo ĐKTT; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu hs; V/P./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thanh Minh |