vanban.org

Bản án 05/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An Tuyên án 26/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 05/11/2019. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong; 01 (một) con dao thái lan; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy; 01 (một) quẹt gas; 01 (m… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Hải Đăng "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HS-ST
Ngày: 26/02/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tơ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Nhị

2. Ông Nguyễn Hồng Phong

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2020/HS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/HSST-QĐ ngày 12/02/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Đ, sinh năm: 1988. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Cò. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: phường 2, thành phố A, tỉnh Long An. Chỗ ở hiện nay: phường 2, thành phố A, tỉnh Long An. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Không. Cha: Ngô H, sinh năm: 1967. Mẹ: Đoàn Thị Thanh V, sinh năm: 1968. Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 26/11/2015, bị TAND TP. Tân An, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/3/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Đồng thời tổng hợp bản án số 106/2015/HSST ngày 26/11/2015 nêu trên của Tòa án nhân dân Thành phố Tân An. Buộc Ngô Đ phải chấp hành hình phạt 01 năm 06 tháng tù. Ngày 13/11/2017, bị Tòa án nhân dân Thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/5/2019. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/11/2019 cho đến nay. (Có mặt)

Bị hại:

- Ông T, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp 1, xã A, huyện T, tỉnh Long An. (có đơn xin vắng mặt)

- Ông Trần Hoàng Vàng, sinh năm 1998. Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện G, tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông M, sinh năm 1983. Địa chỉ: phường 2, thành phố A, tỉnh Long An. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngô Đ có tiền án về tội Trộm cắp tài sản và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chưa xóa án tích. Ngày 17/10/2018, tại ấp 2, xã Mỹ Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Ngô Đ đã lén lút lấy trộm của anh Nguyễn Tấn Đạt một bình Acquy hiệu Đồng Nai, loại 70A trị giá 1.103.000đồng. Ngày 07/7/2019, tại tiệm Internet Rồng Trắng 2 ở số 202 Quốc lộ 1, phường 2, thành phố Tân An, tỉnh Long An, Ngô Đ tiếp tục lấy trộm của anh Trần Hoàng Vàng một điện thoại di động trị giá 1.445.000đồng, sau đó bỏ trốn. Đến ngày 03/11/2019, tại ấp 3, xã C, huyện Đ, tỉnh Long An, Ngô Đ bị lực lương Công an bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ 0,1330 gam ma túy loại Methamphetamine.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 567/KL - HĐĐG ngày 25/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản: một bình acquy hiệu đồng nai loại 70A (Đã qua sử dụng) của anh Nguyễn Tấn Đạt tại thời điểm tháng 10/2018 là 1.103.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 158/KL - HĐĐG ngày 09/7/2019 của Hội đồng định giá: một điện thoại di động hiệu OPPO 13 màu vàng, trắng giá trị tại thời điểm 7/2019 lá 1.445.000 đồng.

Tại kết luận giám định số 601/2019/KLGĐ ngày 09/11/2019 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh Long An: Tinh thể màu trắng đựng trong một gói ny lon được gởi đi giám định là ma túy có khối lượng 0,1330 gam loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của hội đồng định giá, thẩm định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Ngô Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố, công bố lời luận tội về hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị xử lý như sau:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm h, s khoản 1 Điều 51; g, h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; g, h khoản 1 Điều 52, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt đối với Ngô Đ từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù.

Về dân sự: các bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong; 01 (một) con dao thái lan; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy; 01 (một) quẹt gas; 01 (một) kéo bằng kim loại; 01 (một) đoạn ống hút được vạt nhọn một đầu và hàn kín đầu còn lại; 01 (một) bóp da màu đen.

Lời nói sau cùng của bị cáo Đ là xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi phạm tội: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Ngô Đ thừa nhận có tiền án về tội Trộm cắp tài sản và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chưa xóa án tích. Ngày 17/10/2018 tại ấp 2, xã Mỹ Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, Ngô Đ đã lén lút lấy trộm của anh Nguyễn Tấn Đạt một bình Acquy hiệu Đồng Nai, loại 70A trị giá 1.103.000đồng. Ngày 07/7/2019 tại tiệm Internet Rồng Trắng 2 ở số 202 Quốc lộ 1, phường 2, thành phố Tân An, tỉnh Long An. Ngô Đ tiếp tục lấy trộm của anh Trần Hoàng Vàng 01 điện thoại di động trị giá 1.445.000đồng, sau đó bỏ trốn. Đến ngày 03/11/2019, tại ấp 3, xã C, huyện Đ, tỉnh Long An, Ngô Đ bị lực lương Công an bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ 0,1330 gam ma túy loại Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tuy tài sản mà bị cáo Đ trộm được có giá trị dưới 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo đã có tiền án về tội Trộm cắp tài sản và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nên hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngoài ra hành vi của bị cáo Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo Đ tự ý tàng trữ 0,1330 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật. Khi tàng trữ 0,1330gam ma túy bị cáo biết rằng đó là hành vi cấm sẽ bị pháp luật trừng trị, nhưng để thỏa mản cơn nghiện của bản thân nên bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật. Do đó lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng:

Xét thấy bị cáo Đ là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác luôn được pháp luật bảo vệ, nhưng vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông M, ông T. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, tạo tâm lý lo lắng cho nhân dân nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét bị cáo Đ phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Sau khi phạm tội, bị cáo đã ăn năn hối cải, thật thà khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là tàng trử 0,1330gam loại Methamphetamine để sử dụng và bị bắt quả tang. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Việc tàng trử trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo Đ thật sự gây nguy hiểm cho xã hội. Do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.

Về hình phạt:

Khi phạm tội, bị cáo Ngô Đ có hai tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của bị cáo là hết sức nguy hiểm, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để làm gương, răn đe, giáo dục đối với những người có ý thức pháp luật kém và để bị cáo có thời gian tu dưởng, rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội.

Đề nghị về mức hình phạt của Kiểm sát viên là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự : các bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong; 01 (một) con dao thái lan; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy; 01 (một) quẹt gas; 01 (một) kéo bằng kim loại; 01 (một) đoạn ống hút được vạt nhọn một đầu và hàn kín đầu còn lại; 01 (một) bóp da màu đen.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Đ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Đ 03 (Ba) năm tù về tội “Tràng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Ngô Đ phải chấp hành hình phạt chung là 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 05/11/2019.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Ngô Đ 45 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 26/02/2020 để đảm bảo cho việc thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong; 01 (một) con dao thái lan; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy; 01 (một) quẹt gas; 01 (một) kéo bằng kim loại; 01 (một) đoạn ống hút được vạt nhọn một đầu và hàn kín đầu còn lại; 01 (một) bóp da màu đen.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Ngô Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ.

4. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận hoặc niêm yết bản án. Nơinhận:

Cỡ chữ