- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đ S phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy vật chứng; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 05/2020/HS-ST Ngày: 17/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Quốc Hoàn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Trương Ngọc Nhân
Ông: Đinh Minh Tặng
- Thư ký phiên toà:Bà Vũ Thị Hà–Thư ký Toà án nhân dân huyện Minh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá tham gia phiên tòa:Bà Cao Thị Mỹ Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Đ S, sinh ngày: 11 tháng 7 năm 1972 tại: Xã X H, huyện M H, tỉnh Q B. Nơi cư trú: Thôn C L 1, xã X H, huyện M H, tỉnh Q B; nghề nghiệp: Sản xuất nông nghiệp; trình độ văn hoá: Không học phổ thông; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đ V L và bà Đ T Q; có vợ là Đ T C và 02 người con; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/12/2019 cho đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Đ S: Bà N T D L – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q B. Có mặt
- Người bị hại:
Ông Đ T X (Vắng mặt có ly do)
Địa chỉ: Thôn Q H, xã X H, huyện M H, tỉnh Q B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 21/11/2019, Đ S đi phát chồi cây keo tại vùng C thuộc thôn Q H, xã X H, huyện M H, tỉnh Q B. Khi đến nơi, Đ S thấy một đàn bò đang ăn cỏ trong vườn keo của mình, thấy vậy S chạy lại gần đàn bò sẵn cây rựa đang cầm trong tay S ném vào đàn bò làm 01 con bò mẹ lông màu vàng trắng bị thương ở khuỷu chân phải sau. Thấy bò bị thương, sợ có người phát hiện nên Đ S rời khỏi vườn keo đi sang vùng H M phát chồi keo tràm sau đó về nhà.
Quá trình điều tra xác định: 01 con bò mẹ màu vàng trắng bị thương là của ông Đ T X ở thôn Q H, xã X H, huyện M H, tỉnh Q B. Ông X thả cả đàn bò ăn cỏ tại vùng C thuộc thôn Q H từ ngày 19/11/2019, đến ngày 22/11/2019 ông X đi thăm đàn bò thì phát hiện con bò mẹ bị thương nằm trong vườn keo tràm của Đ S.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 37/KLĐG-HĐĐG ngày 26/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Minh Hóa kết luận: 01 con bò cái khoảng 12 năm tuổi, lông màu vàng trắng, tại khuỷu chân phải phía sau có 01 vết thương hở bờ sắc gọn, kích thước dài 04 cm, rộng 03cm, sâu 02cm. Giá trị con bò trên trước khi chưa bị chém là 22.000.000đ, giá trị con bò sau khi bị chém là 17.000.000đ, giá trị thiệt hại của con bò tại thời điểm bị chém là 5.000.000đ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự giác bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa tạm giữ:
- 01 (Một) cái rựa dài 93cm, cán được làm bằng gỗ tròn dài 63cm, lưỡi bằng kim loại dài 30cm, rộng 4,1cm, đầu lưỡi rựa có ngoắc quéo.
Cáo trạng số 05/CT-VKSMH ngày 15/01/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá quyết định truy tố bị cáo Đ S về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố cũng như đề nghị Hội đông xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đ S từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Căn cứ vào kết quả thẩm vấn công khai tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; lời khai của những người tham gia tố tụng tại phiên toà; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên toà bị cáo đã nhất trí hoàn toàn với nội dung bản Cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với các lời khai của những người tham gia tố tụng, qua đó cho thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Minh Hóa, Viện kiểm sát huyện Minh Hóa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi của bị cáo: Vào khoảng 08 giờ ngày 21/11/2019 tại vùng C thuộc thôn Q H, xã X H, huyện M H, tỉnh Q B, Đ S đã có hành vi dùng rựa ném làm con bò cái khoảng 12 năm tuổi của ông Đ T X bị thương, giá trị thiệt hại 5.000.000đ.
Tại phiên tòa bị cáo Đ S đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ đã được kiểm tra tại phiên tòa. Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa đưa ra quan điểm xét xử vụ án là có căn cứ nên chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Đ S phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” được quy định tại khoản 1 điều 178 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét tính chất hành vi, hậu quả do bị cáo gây ra vụ án cho thấy: Đây là hành vi phạm tội có tính chất táo bạo và liều lĩnh, xâm phạm đến tài sản của người khác được phap luật bảo vệ. Vì vậy hành vi trên cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm minh nhằm trừng trị, cải tạo thành người tốt và răn đe, giáo dục chung trong xã hội.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo Đ S có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng.
Tình tiết tăng nặng: không có tình tiết tăng nặng
Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, thấy được lỗi lầm của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại. Trong quá trình giải quyết vụ án gia đình người bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy không cần
3
thiết cách ly bị cáo S ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo cải tạo tại địa phương là đủ tính răn đe và cho bị cáo thấy được tính khoản hồng của Pháp luật Nhà nước. Xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo là hợp lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự giác bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại. Người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên miễn xem xét.
Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy vật chứng sau là hung khí phạm tội:
- 01 (Một) cái rựa dài 93cm, cán được làm bằng gỗ tròn dài 63cm, lưỡi bằng kim loại dài 30cm, rộng 4,1cm, đầu lưỡi rựa có ngoắc quéo.
Số vật chứng trên đã được chuyển giao và hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/01/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Minh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền. Xét thấy các bị cáo không có tài sản vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về án phí: Bị cáo Đ S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đ S phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đ S.
Xử phạt bị cáo Đ S 12 tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian tính từ ngày UBND xã X , huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình nhận được quyết định thi hành án
Commented [p1]: H và giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho xã X H, huyện M H, tỉnh Q B quản lý và giáo dục trong thời gian chấp hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Đ S.
Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đ S không quá thời hạn từ khi tuyên án cho đến khi bị cáo chấp hành án.
2. Về vật chứng vụ án:
4
Căn cứ điểm a khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy vật chứng sau:
- 01 (Một) cái rựa dài 93cm, cán được làm bằng gỗ tròn dài 63cm, lưỡi bằng kim loại dài 30cm, rộng 4,1cm, đầu lưỡi rựa có ngoắc quéo.
Số vật chứng trên đã được chuyển giao và hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/01/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Minh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Đ S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/02/2020), bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm tại UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - Công an huyện Minh Hoá; - VKSND huyện Minh Hoá; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Chi cục THADS huyện Minh Hoá; - Bị cáo; - Trợ giúp viên pháp lý; - Bị hại; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký ) Trương Quốc Hoàn 5 6 7 |