vanban.org

Bản án 05/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 15/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Mạnh T - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HS- ST
Ngày: 15- 4- 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Bình,

2/ Ông Lưu Trọng Kim.

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thái Thoại- Kiểm sát viên.

Ngày 15/4/2020, tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2020/TLST-HS, ngày 17/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐXXST-HS ngày 31/3/2020, đối với bị cáo:

Lê Mạnh T, sinh năm 1987, tại: Bình Thuận

Nơi cư trú: Tổ 8, thôn Z, xã ĐH, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Tu và bà Trần Thị Được ; có vợ Lương Thị Trà M; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/8/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh kết án 24 tháng tù, về tội: Trộm cắp tài sản; bị tạm giữ từ ngày 28/12/2019 đến ngày 03/01/2020, hiện tại ngoại . Có mặt.

-Người có quền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1986.

Trú tại: Tổ 8, khu phố 2, thị trấn ĐT, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Hiện công tác tại: Công an xã ĐH, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

+Ông Phạm Công L, sinh năm 1999.

Trú tại: Thôn X, xã ĐH, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Hiện công tác tại Ban chỉ huy Quân sự xã ĐH (Dân quân thường trực). Có đơn xin xét xử vắng mặt.

-Người làm chứng:

+Bà Lương Thị Trà M, sinh năm 1992. Có mặt.

+Ông Lê Hoàng Th, sinh năm 2000. Vắng mặt.

+Ông Lê Thanh T1, sinh năm 1986. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 27/12/2019, sau khi uống rượu, Lê Mạnh T, sinh năm 1987 về nhà tại tổ 8, thôn 2A, xã ĐH, huyện Đ có hành vi chửi bới, đánh đập vợ là Lương Thị Trà M. Lúc này có Lê Thanh T1 và Lê Hoàng Th là anh, em của T can ngăn, nhưng T vẫn tiếp tục chửi bới và đánh đập vợ. Do vậy Th điện thoại báo cho Công an xã ĐH đến giải quyết. Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 28/12/2019 ông Nguyễn Văn N là Phó trưởng Công an xã ĐH cùng ông Phạm Công L là Dân quân xã ĐH đến nhà T giải quyết sự việc. Khi đến nơi thấy T ở trong nhà chửi bới chị M, nên ông N vào nhà yêu cầu T chấm dứt hành vi la hét làm ảnh hưởng đến người dân xung quanh. T lại dùng lời lẽ thô tục chửi bới, xúc phạm ông N và ông L; T đóng cửa nhà, thì ông N ngăn lại. T tiếp tục chửi bới và lấy 01 nón bảo hiểm trên xe định đánh ông N, thấy vậy Lê Hoàng Th vào can ngăn. T xông tới dùng tay nắm cổ áo ông N xô ra ngoài sân, dùng tay bóp cổ và giằng co với ông N. Do vậy ông L cùng Th khống chế bắt giữ T và báo Công an huyện Đức Linh đến làm việc.

Theo Cáo trạng số 09/CT-VKS-HS ngày 16/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Lê Mạnh T ra trước Tòa án nhân dân huyện Đức Linh để xét xử về tội: Chống người thi hành công vụ, theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, giữ nguyên Cáo trạng, đại diện Viện kiểm sát rút lại không truy tố bị cáo về tình tiết phạm tôi có tính chất côn đồ như Cáo trạng đã nêu; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự,

-Phạt bị cáo Lê Mạnh T từ 6 đến 9 tháng tù. Đồng thời đề nghị việc xử lý vật chứng.

Bị cáo: Không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Phần thủ tục: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và nhân chứng Lê Hoàng Th, Lê Thanh T1. Tuy nhiên đã có lời khai của họ trong hồ sơ vụ án, đồng việc xét xử vắng mặt không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của họ, nên Hội đồng xét xử vắng mặt họ.

Về hành vi của bị cáo: Qua lời khai của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, kết hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Trong khoảng thời gian từ 23 giờ 30 phút ngày 27/12/2019 đến khoảng hơn 00 giờ ngày 28/12/2019 Lê Mạnh T có to tiếng chửi bới, đánh đập vợ là Lương Thị Trà M, làm ảnh hưởng đến người dân xung quanh, vì thời điểm này là giữa đêm khuya, người dân đang ngủ, nghỉ. Do không ngăn cản việc chửi bới và đánh đập vợ của bị cáo T, nên anh, em của T đã điện báo Công an xã ĐH đến giải quyết sự việc. Khi lực lượng Công an, Dân phòng xã ĐH đến yêu cầu T chấm dứt hành vi la lối, đánh đập vợ, bị cáo không những không chấp hành yêu cầu của Công an (lực lượng bảo vệ trật tự ở địa phương), mà trái lại bị cáo còn có hành vi chống đối lại lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự trị an như sau: Dùng lời lẽ thô tục xúc phạm, dùng vũ lực nắm cổ áo xô, đẩy, giật đứt cúc áo, làm trầy xước da của ông N và dùng nón bảo hiểm định đánh lại những người thực thi công vụ là Công an và Dân quân xã ĐH. Chính hành vi trên của bị cáo đã làm cản trở công việc giữ gìn trật tự trị an trên địa bàn. Vì vậy hành vi của của bị cáo đã cấu thành tội: Chống người thi hành công vụ, theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo thực hiện: Xâm phạm đến hoạt động bình thường và đúng đắn của người thực thi công vụ, gây bức xúc cho người thân trong gia đình bị cáo, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn thôn xóm trong lúc đêm khuya. Do đó cần phải xử phạt để giáo dục và răng đe, phòng ngừa.

Về nhân thân của bị cáo: Trước đây bị cáo đã bị kết án, tuy đã được xóa án tích, nhưng điều này chứng minh bị cáo có nhân thân không tốt. Vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian cần thiết để giáo dục bị cáo biết tôn trọng kỹ cương pháp luật của Nhà nước.

Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa Viện kiểm sát rút lại việc truy tố bị cáo với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: phạm tội có tính chất côn đồ, theo điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là phù hợp. Bởi vì: Chính những hành vi dùng vũ lực của bị cáo T là dấu hiệu cấu thành tội chống người thi hành công vụ, nên không thể lấy tình tiết dùng vũ lực của bị cáo để vừa làm tình tiết định tội và vừa làm tình tiết tăng nặng cho bị cáo được. Xét thấy hành vi chống người thi hành công vụ xảy ra trong thời gian ngắn, mức độ ảnh hưởng đến xã hội không lớn, nên phạt bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt quy định như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về bồi thường thiệt hại: Mặc dù trong quá trình phạm tội bị cáo có gây ra trầy xước da, đứt cúc áo của ông Nguyễn Văn N- người thi hành công vụ, nhưng thiệt hại không lớn, ông N không yêu cầu bồi thường, nên không cần phải xem xét.

Vật chứng trong vụ án: 01 áo màu xanh có cấp hàm thượng úy bị mất cúc áo thứ hai từ trên xuống (áo ngành Công an), nên trả lại cho ông N; 01 nón bảo hiểm màu tím có chữa Honda, đây là dụng cụ bị cáo sử dụng trong lúc phạm tội, không có giá trị, nên tịch thu tiêu hủy.

Về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Kể từ khi tiếp nhận tin báo về tội phạm cho đến khi ban hành kết luận điều tra, Điều tra viên thực hiện hành vi tố tụng, ban hành các văn bản tố tụng đúng thẩm quyền, đúng thời hạn và đúng trình tự của Bộ luật Tố tụng hình sự; thực hiện các hoạt động điều tra đúng luật định. Đối với Kiểm sát viên trong quá trình giám sát các hoạt động ở giai đoạn điều tra thực hiện đúng thẩm quyền. Trong giai đoạn truy tố Kiểm sát viên tiến hành hoạt động tố tụng đúng thẩm quyền và trình tự tố tụng. Trong giai đoạn điều tra, truy tố không có sự khiếu nại gì.

Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án, theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT DỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 330, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

1. Tuyên bố: Lê Mạnh T phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.

Phạt Lê Mạnh T 06 (sáu) tháng tù, nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 28/12/2019 đến ngày 03/01/2020; thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Vể xử lý vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án: Trả lại cho ông Nguyễn Văn N 01 áo màu xanh có cấp hàm thượng úy bị mất cúc áo thứ hai từ trên xuống (áo ngành Công an); tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu tím có chữa Honda, hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/3/2020.

3.Về án phí: Lê Mạnh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (15/4/2020), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ