- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thái B (TCTS) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/HS-ST Ngày: 07-02-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tòng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Tống Nê.
2/ Ông Nguyễn Thanh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Việt – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Lê Thái B, sinh năm 1988; tại tỉnh Bến Tre; Trú tại: Ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Đầu bếp; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Lê Văn T (chết) và bà Lê Thị D; Bị cáo có vợ tên Huỳnh Thị Ngọc Đ, có 01 người con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Nguyễn Thanh T, sinh năm 1982; (vắng mặt)
Trú tại: Ấp X, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
+ Trần Thị Trúc L, sinh năm 1990; (có mặt)
Trú tại: Ấp X, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Trần Thanh N, sinh năm 1991; (vắng mặt)
Trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 5/7/2019, Lê Thái B điều khiển xe mô tô biển số 71C3-338.36 đến công ty Gennex Apparel tại khu công nghiệp Giao Long, thuộc ấp Phước Hưng, xã An Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre để xin làm đầu bếp. Sau khi liên hệ quản lý để xin việc, B quay lại khu vực để xe, lúc này B phát hiện chiếc xe 71C1-248.57 của anh Nguyễn Thanh T (là công nhân của công ty) đang dựng gần xe của B không người trông coi, B nảy sinh ý định mở cốp xe tìm tài sản lấy trộm, B liền dùng tay giở yên xe 71C1-248.57 lên, lấy cái bóp trong cốp xe anh Tâm rồi lên xe bỏ đi. Qua kiểm tra, trong bóp có số tiền 1.280.000 đồng, 01 sợi dây chuyền kèm mặt dây chuyền và chiếc bông tai vàng 15k, tổng trọng lượng 06 phân 02 ly và một số giấy tờ tuỳ thân khác. B chỉ lấy tiền và vàng, còn giấy tờ B đem bỏ vào thùng thư ngoài cổng bưu điện huyện Châu Thành. Sau đó B đến tiệm vàng Tân Tiến Thành 3, tại ấp Tân Huề Tây, xã Tân Thạch bán số vàng vừa trộm được với số tiền 1.333.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, chị Trần Thị Trúc L (vợ anh T) đi ra xe để lấy cái bóp thì phát hiện mất nên chị L báo lại với anh , sau đó Tanh T trình báo sự việc với cơ quan công an. Qua trích xuất camera tại công ty thì phát hiện B là người lấy trộm cái bóp, Công an mời làm việc thì B thừa nhận hành vi đã trộm cắp nêu trên.
Vật chứng tạm giữ: 01 cái bóp da nam màu nâu, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, 01 giấy phép lái xe A1, 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Nguyễn Thanh T; 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Nguyễn Trần Khánh N, 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Nguyễn Trần Khánh V; 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe A1, 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Trần Thị Trúc L. Ngoài ra, còn tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, biển số 71C3-338.36 của Lê Thái B.
Tại bản kết luận định giá trị tài sản số 1259/KL-HĐĐG ngày 01/10/2019 của Hội đồng định giá huyện Châu Thành xác định: 01 sợi dây chuyền kèm 01 mặt dây chuyền, 01 chiếc bông tai, tất cả bằng vàng 15k, trọng lượng 06 phân 02 ly có giá trị là 1.460.410 đồng; 01 cái bóp da có giá trị 250.000 đồng. Tổng cộng 1.710.410 đồng. Tổng giá trị tài sản Lê Thái B chiếm đoạt: số tiền 1.280.000 đồng + 1.710.410 đồng là 2.990.410 đồng. Quá trình điều tra, Lê Thái B đã bồi thường cho anh Nguyễn Thanh T số tiền 2.600.000 đồng.
Cáo trạng số 02/CT-VKSCT ngày 16/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Lê Thái B về “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm “Tội trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Thái B từ 06 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 24 tháng.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn Thanh T số tiền 2.600.000 đồng và anh T không có yêu cầu gì khác.
* Về xử lý vật chứng:
- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã trả lại: 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision biển số 71C3-338-36 cho Lê Thái B; trả lại cho anh Nguyễn Thanh T: 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, 01 giấy phép lái xe A1, 01 thẻ bảo hiểm y tế; 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Nguyễn Trần Khánh N, 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Nguyễn Trần Khánh V; trả lại cho chị Trần Thị Trúc L: 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe A1, 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Trần Thị Trúc L.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Thanh T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh N vắng mặt. Bị cáo, bị hại Trần Thị Trúc L không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử do đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra nên tiếp tục xét xử là phù hợp quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị hại về đặc điểm tài sản, vị trí, thời gian để tài sản mà bị cáo chiếm đoạt và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 10 giờ, ngày 05/7/2019, tại khu vực nhà xe của công ty Gennex Apparel khu công nghiệp Giao Long thuộc ấp Phước Hưng, xã An Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, lợi dụng lúc vắng người, Lê Thái B đã lén lút lấy trộm 01 cái bóp dưới yên xe mô tô của anh Nguyễn Thanh T, trong bóp có số tiền 1.280.000 đồng, 01 sợi dây chuyền kèm mặt dây chuyền và chiếc bông tai, tất cả bằng vàng 15k, tổng trọng lượng 06 phân 02 ly. Tại bản kết luận định giá trị tài sản số 1259/KL-HĐĐG ngày 01/10/2019 của Hội đồng định giá huyện Châu Thành xác định: 01 sợi dây chuyền kèm 01 mặt dây chuyền, 01 chiếc bông tai, tất cả bằng vàng 15k, trọng lượng 06 phân 02 ly có giá trị là 1.460.410 đồng; 01 cái bóp da có giá trị 250.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Lê Thái B chiếm đoạt là 2.990.410 đồng.
Hành vi của bị cáo là hành vi cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Thái B đã phạm “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị xã hội lên án nhưng vì động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã lợi dụng sự thiếu cảnh giác trong quản lý tài sản của bị hại để thực hiện hành vi phạm tội, trên thực tế bị cáo đã thực hiện việc chiếm đoạt được tài sản như ý định của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mọi người không an tâm trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi.
Xét tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại; bị cáo có bác ruột là Liệt sĩ, được quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà chỉ cần giao bị cáo về địa phương phối hợp cùng gia đình quản lý, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung nên cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
Về trách nhiệm dân sự:
- Bị cáo Lê Thái B đã bồi thường cho anh Nguyễn Thanh T số tiền 2.600.000 đồng nên ghi nhận. Cơ quan CSĐT – Công an huyện Châu Thành đã giao trả lại cho anh Nguyễn Thanh T 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, 01 giấy phép lái xe A1, 01 thẻ bảo hiểm y tế; 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Nguyễn Trần Khánh N, 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Nguyễn Trần Khánh V; trả lại cho chị Trần Thị Trúc L: 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe A1, 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Trần Thị Trúc L và anh T, chị L không có yêu cầu gì khác nên ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số vàng bị cáo lấy trộm của anh T, sau khi bị cáo đem bán cho tiệm vàng Tân Tiến Thành 3, chủ tiệm vàng đã đem nấu và chế tác thành sản phẩm khác, không thu hồi được nên không xét đến.
- Cơ quan CSĐT – Công an huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision biển số 71C3-338-36 cho bị cáo Lê Thái B nên không xét đến.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Lê Thái B phạm “Tội trộm cắp tài sản”;
Xử phạt bị cáo Lê Thái B 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/02/2020).
Giao bị cáo Lê Thái B về cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre phối hợp cùng với gia đình bị cáo giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Trách nhiệm dân sự:
- Ghi nhận bị cáo Lê Thái B đã bồi thường cho anh Nguyễn Thanh T số tiền 2.600.000 đồng; anh Nguyễn Thanh T đã nhận lại 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, 01 giấy phép lái xe A1, 01 thẻ bảo hiểm y tế; 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Nguyễn Trần Khánh N, 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Nguyễn Trần Khánh V; chị Trần Thị Trúc L đã nhận lại 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe A1, 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Trần Thị Trúc L và anh T, chị L không có yêu cầu gì khác nên ghi nhận.
[3] Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Thái B phải chịu là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - STP tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND huyện Châu Thành (1b); - Chi cục THADS huyện Châu Thành (1b); - Công an huyện (1b); - Bộ phận HS CA huyện (2b); - UBND X. M (1b); - Những người tham gia tố tụng (4b); - Lưu: HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phan Thanh Tòng |