- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc V và Nguyễn Văn H cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Lu…"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/HS-PT Ngày: 19/01/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Ông Nguyễn Duy Phượng
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Thành Long
Ông Nguyễn Tuấn Hưng
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà:
Bà Tống Thị Ninh - Kiển sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 89/2020/TLPT-HS ngày 03 tháng 11 năm 2020 đối với các bị cáo Nguyễn Quốc V và Nguyễn Văn H do có kháng cáo của người đại diện bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2020/HSST ngày 24/9/2020 của Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
* Người kháng cáo: Người đại diện bị hại: Bà Phạm Thị Quỳnh C, sinh năm 1962; trú tại: Thôn Cao Xá 1, phường Lam Sơn, TP Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, có mặt tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Phạm Thị Quỳnh C:
Luật sư Nguyễn Khắc Anh - Văn phòng Luật sư Hoàng Gia, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Hưng Yên, có mặt.
* Các bị cáo không kháng cáo:
1. Nguyễn Quốc V, sinh năm 1992; sinh trú quán: Thôn H1, xã H2, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị Minh N; có vợ là Đỗ Thị D, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và có 02 con (lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016); tiền án: Không; tiền sự: Ngày 04/12/2019 bị Công an thành phố Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác; bị cáo bị tạm giữ ngày 04/02/2020, tạm giam từ ngày 13/02/2020 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên, có mặt.
2. Nguyễn Văn H, sinh năm 2000; sinh trú quán: thôn B, xã Y, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên; trình độ học vấn: Lớp 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn N và bà Lê Thị H; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 04/12/2019 bị Công an thành phố Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác; bị cáo bị tạm giữ ngày 17/4/2020, tạm giam từ ngày 20/4/2020 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 ngày 02/02/2020, sau khi đi uống rượu xong, nhóm 4 người gồm các anh Trương Anh S, Lâm Xuân T, Lê Văn L và Nguyễn Văn H2 (1987) rủ thêm Nguyễn Văn H2 (1983) đi hát tại quán karaoke No1 ở địa chỉ thôn Phương Thông, xã Phương Chiểu, thành phố Hưng Yên do chị Lê Thị H làm chủ để hát và uống bia rượu tiếp. Tại đây nhóm của anh S gặp anh Nguyễn Quốc C và anh Kiều Xuân H4, sau đó tất cả cùng vào phòng Vip 666 để hát, uống bia, rượu và gọi 5 đến 6 nhân viên nữ phục vụ rót bia, bấm bài, hát cùng. Đến khoảng hơn 01 giờ ngày 03/02/2020 anh S đi ra ngoài cửa phòng hát thì gặp anh Đinh Trung H1 (là nhân viên phục vụ tại quán), tại đây anh S yêu cầu anh H1 gọi anh Đỗ Mạnh T2 (là chồng chị H - chủ quán) đến gặp anh S. Anh H1 trả lời là anh T2 không có mặt tại quán, anh S yêu cầu anh H1 quỳ và định đánh anh H1 nhưng được mọi người can ngăn. Sau đó anh T2 một mình đến quán gặp anh S thì anh S có to tiếng chửi và ném cốc về phía anh T2 nhưng không trúng. Do thấy anh S đã say nên anh T2 không đánh lại mà xin anh S không phá quán, khuyên anh S đi về.
Lúc này Nguyễn Văn H đang đợi đón nhân viên nữ, thấy sự việc như vậy đã gọi điện thoại cho Nguyễn Quốc V đến. Trong lúc anh T2 và mọi người đưa anh S ra đường 39A cách quán khoảng 50m gần ngã tư đèn xanh, đèn đỏ của đường 39A đường nối hai cao tốc, phía trước khu vực để xe để đợi anh Nguyễn Văn H2 lấy xe ô tô ra đưa anh S về thì V một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không đeo biển kiểm soát đến dựng phía trước cửa quán karaoke, V thấy anh S liên tục chửi bới to tiếng. Nên V đã đi bộ đến chỗ anh S và mọi người đứng. H thấy vậy nên đi cùng V. Khi V đi đến thì anh S nói “Thằng này là thằng nào?” rồi anh S lao vào dùng chân phải đạp một nhát vào bụng của V và dùng tay phải đấm một nhát trúng vào mắt bên phải của V khiến V bị ngã ngửa ra phía sau. Thấy V bị anh S đánh nên H đã lao đến dùng hai tay đấm liên tiếp vào người và đầu anh S. Anh T2, anh H4, anh C thấy anh S bị đánh nên đã lao vào can ngăn anh S và H ra nhưng H vẫn tiếp tục xông vào đánh, H dùng tay vít cổ anh S xuống ngang mặt đất. Lúc này V chạy đến dùng chân phải đá một nhát theo hướng từ dưới lên trên trúng vào vùng mặt anh S làm anh S bị ngã ngửa ra đường, anh H4 thấy anh S bị ngã thì chạy đến ôm đè lên phần bụng anh S để chắn không cho V và H đánh anh S nữa. V thấy vậy nên đã chạy vòng lên phía bên tay trái của anh S đá thêm một nhát vào vùng thái dương bên trái của anh S còn H chạy vòng lên phía bên tay phải của anh S đá một nhát vào bắp tay và vùng thái dương bên phải của anh S. Lúc này anh Phương Công T2 (là bạn của V và H) vào can không cho V và H đánh anh S nữa. V và H dừng lại không đánh Sơn nữa mà bỏ đi về phía quán karaoke. Anh S bị bất tỉnh được các bạn đi cùng khênh lên xe ô tô để anh Nguyễn Văn H2 đưa về số 387 Nguyễn Văn Linh, phường An Tảo, thành phố Hưng Yên. Anh Hùng để anh S nằm tại ghế trong phòng khách và lấy chăn đắp cho anh S ngủ vì nghĩ anh S chỉ say rượu. Khoảng 13 giờ ngày 03/02/2020 anh Nguyễn Văn H2 và anh Trương Anh G (là em trai ruột anh S) thấy anh S có biểu hiện tím tái, ngừng tim nên đã gọi xe taxi đưa anh S đến Bệnh viện Hưng Hà, thành phố Hưng Yên cấp cứu nhưng anh S đã tử vong.
Tại Biên bản khám nghiệm tử thi ngày 03/02/2020 xác định: Toàn bộ phần người từ cổ trở xuống không có thương tích gì. Phần đầu có tụ máu dưới da vùng đỉnh đầu kích thước 6x5cm, tụ máu vùng thái dương bên trái kích thước 7x5cm, tụ máu vùng thái dương bên phải và vùng chẩm phải kích thước 13x5cm, tụ máu cơ thái dương bên trái kích thước 7x2cm, tụ máu cơ thái dương bên phải kích thước 5x4cm vỡ xương chẩm phải, thái dương phải đường vỡ xương thái dương lan xuống nền sọ tổng kích thước đường vỡ dài 13cm, phía trong dài 16cm. Tụ máu dưới màng cứng vùng trán phải kích thước 5x4x0,1x0,2cm, tụ máu dưới màng cứng lan tỏa bán cầu não trái, tụ màng nền lan tỏa hai bên bán cầu đại não, bên trái nhiều hơn bên phải, dập não thùy trán trái kích thước 5x3cm. Tổ chức não phù mạnh, các khe cuốn não mờ, có dấu hiệu tụt kẹt hạnh nhân tiểu não phải.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 634/C09.P4-TT1 ngày 12/02/2020 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận: Nguyên nhân chết của anh S là suy hô hấp, suy tuần hoàn do chấn thương sọ não. Cơ chế hình thành dấu vết thương tích: Các tổn thương sây sát da, tụ máu vùng đỉnh phải chẩm, vỡ xương sọ vùng chẩm thái dương phải, tụ máu dưới màng cứng vùng bán cầu não trái, dập não thuỳ trán trái, thái dương phải hình thành theo cơ chế đối lực, khi đầu chuyển động va đập (vùng chẩm đỉnh phải) với vật tày diện rộng gây nên. Các đường vỡ xương sọ hố chẩm phải, xương cánh bướm lớn phải là các tổn thương gián tiếp của lực tác động gây vỡ xương thái dương chẩm phải. Các tổn thương khác tại vùng đầu do tác động trực tiếp với vật tày gây nên. Các tổn thương da đầu hình thành trước chết trong khoảng từ 12 đến 20 giờ.
Ngày 04/02/2020 Nguyễn Quốc V đã đến Cơ quan CSĐT - Công an TP Hưng Yên đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi cùng với Nguyễn Văn H đánh gây thương tích cho anh Trương Anh S ngày 03/02/2020.
Về vấn đề trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị Quỳnh C là mẹ đẻ của anh S yêu cầu bị cáo V và bị cáo H phải bồi thường cho bà C và cháu Nguyễn Thế B4 số tiền 812.500.000 đồng. Trong đó, tiền chi phí khám bệnh cho anh S là 2.500.000 đồng; tiền tổ chức ma chay cho anh S là 112.500.000 đồng, tiền cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thế B4 (Theo bà C trình bày cháu B4 là con trai của anh S) đến khi cháu B4 đủ 18 tuổi là 500.000.000 đồng; tiền tổn thất về tinh thần của bà C là 200.000.000 đồng. Đối với cháu Nguyễn Thế B4 hiện không có tài liệu chứng minh cháu B4 là con đẻ hay con nuôi của anh Trương Văn Sơn.
Bị cáo V và bị cáo H đề nghị giải quyết vấn đề trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Ngày 29/5/2020 bà Đoàn Thị Minh N (là mẹ của bị cáo V) đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh S số tiền 20.000.000 đồng thay cho V; anh Phương Công T2 đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh S số tiền 20.000.000 đồng thay cho H. Tuy nhiên, bà C không đồng ý và không nhận số tiền nêu trên nên bà N và anh T2 đã nộp số tiền này cho Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hưng Yên.
Tại Bản án số 40/2020/HS-ST ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên đã tuyên xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc V và bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 48, Điều 17, Điều 58 của BLHS; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 590, 591 BLDS; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Nghị quyết số 326/2016/NQ/ UBTVQH16 về chế độ án phí, lệ phí Tòa án, đối với cả hai bị cáo.
Hình phạt:
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc V 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/02/2020.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/4/2020.
Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo Nguyễn Quốc V phải bồi thường cho bà Phạm Thị Quỳnh C là 64.980.000đ, được trừ 20.000.000đ gia đình bị cáo đã nộp tại cơ quan thi hành án, còn lại buộc bị cáo V phải bồi thường tiếp cho bà C 44.980.000đ.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường cho bà Phạm Thị Quỳnh C 43.320.000đ, được trừ 20.000.000đ gia đình bị cáo đã nộp tại cơ quan thi hành án, còn lại buộc bị cáo H phải bồi thường tiếp cho bà C 23.320.000đ.
(Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và bà C có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, Chi cục thi hành án có trách nhiệm trả cho bà C số tiền 40. 000.000đ mà gia đình bị cáo V và H đã nộp)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bà Phạm Thị Quỳnh C có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, nếu bị cáo V và bị cáo H chậm thi hành khoản tiền bồi thường ở trên, thì sẽ phải chịu lãi suất tương ứng với thời gian chậm thi hành theo quy định tại điều 468 của BLDS.
- Không chấp nhận khoản tiền cúng 49 - 50 ngày và 100 ngày mà bà C yêu cầu, vì pháp luật không quy định.
- Đối với việc bà C yêu cầu các bị cáo phải cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thế B4 là con trai anh S cho tới khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi là 500.000.000đ. Do chưa có căn cứ xác định cháu Nguyễn Thế B4 là con của anh S, nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này bà C có đủ căn cứ chứng minh cháu Nguyễn Thế B4 là con anh S thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án còn quyết định xử lý về phần vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/10/2020 bà C kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị xử các bị cáo ở mức cao nhất và buộc các bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại như gia đình đã kê khai.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo để xử các bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất, ngoài ra các bị cáo trình bày đã bồi thường thêm cho bà C theo thỏa thuận là 88.000.000 đồng, trong đó: V bồi thường thêm số tiền 55.000.000 đồng; H bồi thường thêm số tiền 33.000.000 đồng.
Đại diện bị hại là bà C xác nhận đã nhận đủ số tiền như các bị cáo trình bày, đồng ý sẽ nhận khoản tiền mà gia đình bị cáo đã nộp, đang gửi tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên để bù đắp vào thiệt hại của gia đình, đồng thời không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm. Bà C rút yêu cầu kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự. Về hình phạt: Bà C thay đổi yêu cầu kháng cáo, xin giảm nhẹ tối đa cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và các bản giám định của các cơ quan chức năng đã kết luận cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Quốc V và Nguyễn Văn H về tội Cố ý gây thương tích là có căn cứ. Tại phiên tòa, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, rút yêu cầu kháng cáo về phần dân sự. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 3 Điều 342; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đình chỉ xét xử đối với phần trách nhiệm dân sự; chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại về hình phạt. Sửa Bản án sơ thẩm số 40/2020/HS-ST ngày 24/9/2020 của Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên, giảm hình phạt cho mỗi bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Người đại diện của bị cáo bà Phạm Quỳnh C đã kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật nên kháng cáo là hợp pháp, được chấp nhận.
Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Quốc V và Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường cùng bản ảnh hiện trường vụ án, biên bản khám nghiệm tử thi, bản kết luận giám định pháp y; biên bản và bản ảnh thực nghiệm điều tra, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định: Khoảng hơn 01 giờ ngày 03/02/2020 do bị anh Trương Anh S đánh gây thương tích trước nên Nguyễn Quốc V cùng Nguyễn Văn H đã dùng chân tay không đánh vào người của anh S, H dùng tay trái vít cổ anh S xuống để V dùng chân phải đá 01 nhát từ dưới lên trên trúng vào vùng mặt của anh S khiến anh S bị ngã ngửa đầu đập xuống đường. Sau khi Sơn ngã, V tiếp tục dùng chân đá 01 nhát vào vùng thái dương bên trái của anh S, H đá 01 nhát vào bắp tay và 01 nhát vào vùng thái dương bên phải của anh S khiến anh S bị bất tỉnh. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày anh S đã tử vong. Nguyên nhân chết của anh S là do chấn thương sọ não.
Trong vụ án này, các bị cáo không có ý định tước đoạt tính mạng người khác, việc các bị cáo tấn công vào vùng đầu của bị hại là do các bộ phận cơ thể khác của bị hại đã bị che khuất bởi anh Kiều Xuân H4, là bạn của bị hại đã vào can ngăn khi xảy ra xô xát.
Bởi hành vi trên, Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Quốc V và Nguyễn Văn H về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của người đại diện bị hại - bà C; Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Về trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Tòa án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo; áp dụng đầy đủ, chính xác tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và xử phạt các bị cáo Nguyễn Quốc V 08 (tám) năm tù và Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho cả hai bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, việc thay đổi nội dung kháng cáo phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự do đó được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị Quỳnh C xác định đã nhận thêm số tiền bồi thường từ gia đình các bị cáo theo thỏa thuận, đồng ý nhận thêm số tiền mà gia đình các bị cáo đã nộp 40.000.000 đồng tại cơ quan tiến hành tố tụng như phần quyết định của bản án sơ thẩm và rút yêu cầu kháng cáo về phần dân sự. Xét việc rút kháng cáo yêu cầu bồi thường của bà C là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử một phần kháng cáo của bà C.
Về án phí: Do kháng cáo của đại diện bị hại được chấp nhận, nên đại diện bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của người đại diện bị hại về hình phạt, sửa bản án sơ thẩm số 40/2020/HS-ST ngày 24/9/2020 của Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc V và bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 48, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Quốc V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/02/2020.
- Bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/4/2020.
[2]. Căn cứ vào Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận yêu cầu rút một phần kháng cáo của người đại diện bị hại. Đình chỉ xét xử phúc thẩm phần kháng cáo về trách nhiệm dân sự.
[3]. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Người đại diện bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.
[4]. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ KTGĐ I-TAND tối cao; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Phòng HSNVCS-CA tỉnh Hưng Yên; - TAND thành phố Hưng Yên; - VKSND thành phố Hưng Yên; - Công an thành phố Hưng Yên; - Các bị cáo; - Người đại diện bị hại; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, Tòa HC. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Duy Phượng |