- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị C- Đặng Trường C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị C. Bà Võ Thị C được ly hôn với ông Đặng Trường C.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật; Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:05/2020/HNGĐ-ST Ngày 19-3-2020 V/v ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Hiền
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thế Phương.
2. Bà Phạm Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Liên- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Hồng Nhung, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 529/2019/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2019 về “Yêu cầu ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 01 tháng 03 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị C, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu (có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Đặng Trường C, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn Phước L, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và quá trình hòa giải nguyên đơn trình bày:
Bà Võ Thị C và ông Đặng Trường C tự nguyện chung sống với nhau năm 1995 có đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND xã Tân Hòa, huyện Tân Thành, (nay là thị xã Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ngày 22/12/2004.
Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống và cách sống dẫn đến vợ chồng không hiểu nhau, không cảm thông cho nhau, thường xuyên cãi vả, dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn quan tâm, chia sẻ, chăm sóc lẫn nhau. Ông C hay ghen tuông vô cớ, chửi bậy. Vợ chồng vẫn sống chung nhà nhưng từ tháng 9/2019 đến nay vợ chồng không còn quan hệ sinh lý với nhau, việc ai nấy làm, không ai quan tâm đến ai.
Bà C nhận thấy mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà C được ly hôn với ông Đặng Trường C
- Về con chung: Bà Võ Thị C và ông Đặng Trường C có 02 con chung là Võ Minh Cường, sinh ngày 10-01-1996 và Đặng Võ Quốc Bảo, sinh ngày 02-12-2006. Đối với cháu Cường đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Bảo, khi ly hôn bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi, không yêu cầu ông Đặng Trường C cấp dưỡng nuôi con. Hiện bà C là thợ may thu nhập bình quân mỗi tháng 5 triệu đồng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Theo biên bản lấy lời khai, quá trình hòa giải và tại phiên tòa bị đơn đơn trình bày:
Về điều kiện kết hôn, thời gian chung sống với nhau, thời gian vợ chồng không còn quan hệ sinh lý với nhau mặc dù vợ chồng vẫn còn sống chung nhà ông C xác nhận lời trình bày của bà C là đúng nên ông C không bổ sung gì thêm.
Về nguyên nhân mâu thuẫn ông C xác nhận là do ông C có ghen tuông đối với bà C nên dẫn đến vợ chồng cãi vã với nhau. Nay bà C yêu cầu được ly hôn thì ông C có ý kiến: Ông vẫn mong muốn vợ chồng quay về đoàn tụ để cùng nuôi dạy con cái nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Bà Võ Thị C và ông Đặng Trường C có 02 con chung là Võ Minh C, sinh ngày 10-01-1996 và Đặng Võ Quốc B, sinh ngày 02-12-2006. Nếu phải ly hôn ông đồng ý để bà C trực tiếp nuôi con, ông C không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận cho bà C được ly hôn với ông C
Về con chung: Cháu Võ Minh C, sinh ngày 10-01-1996 đã trưởng thành nên Bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Đặng Võ Quốc B, sinh ngày 02-12-2006 cho bà C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và tự nguyện không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con theo nguyện vọng của cháu Bảo và bà C.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Buộc bà C phải nộp theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các đương sự có hộ khẩu đăng ký thường trú tại thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ theo khoản 1 điều 28 và điểm a khoản 1 điều 35, Điều 36, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn”. Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
2 Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
2.1 Về quan hệ hôn nhân
Qua thời gian quen biết và tìm hiểu nhau, Bà Võ Thị C và ông Đặng Trường C tiến tới hôn nhân chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Bà C, ông C đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Hòa, huyện Tân Thành (nay là thị xã Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, giấy chứng nhận kết hôn số 195/04, quyển số 01 ngày 22 tháng 12 năm 2004. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa bà C và ông C là hôn nhân hợp pháp.
Hiện nay giữa bà C, ông C phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do hai vợ chồng không còn thương yêu, tôn trọng đối với nhau, bất đồng về tính cách, quan điểm sống nên dẫn đến thường xuyên cải vã và xô xát nhau, dẫn đến cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng. Bà C, ông C đã tự sống ly thân từ tháng 9 năm 2019 cho đến nay. Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải để vợ chồng bà C, ông C đoàn tụ nhưng bà C không đồng ý đoàn tụ. Phía ông C mặc dù có nguyện vọng mong muốn được đoàn tụ nhưng bản thân ông C không thay đổi việc hay ghen tuông vô cớ. Việc này cho thấy ông C không có thiện chí hòa giải, không vì hạnh phúc gia đình mà cố gắng.
Nhận thấy, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng bà C, ông C đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Nên cần chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của bà C với ông C.
2.2 Về con chung: Trong quá trình chung sống, Bà C, ông C có 02 người con chung là Võ Minh C, sinh ngày 10-01-1996 và Đặng Võ Quốc B, sinh ngày 02-12-2006. Đối với cháu C đã trưởng thành nên bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu B, theo nguyện vọng của con, khi ly hôn bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi, không yêu cầu ông Đặng Trường C cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu này của bà C thì thấy nguyện vọng của cháu B muốn tiếp tục được sống với mẹ và ông C cũng đồng ý giao cháu B cho bà C chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành. Vì thế cần chấp nhận yêu cầu này của bà C.
3 Về tài sản chung, nợ chung: Bà C, ông C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn bà Võ Thị C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, Điều 36, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị C. Bà Võ Thị C được ly hôn với ông Đặng Trường C.
2.Về con chung: Bà C, ông C có 02 người con chung là Võ Minh C, sinh ngày 10-01-1996 và Đặng Võ Quốc B, sinh ngày 02-12-2006. Cháu Võ Minh C đã trưởng thành nên bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết, giao cháu Đặng Võ Quốc B cho bà Võ Thị C chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Bà C tự nguyện không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Buộc ông Đặng Trường C phải có trách nhiệm giao cháu Đặng Võ Quốc B, sinh ngày 02-12-2006 cho bà Võ Thị C chăm sóc nuôi dưỡng khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Đặng Trường C được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
4. Về án phí hôn nhân gia đình: Bà Võ Thị C phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002586 ngày 10/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ.Như vậy bà C đã nộp xong án phí .
5.Về quyền kháng cáo:Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND TX Phú Mỹ; - Chi cục THADS TX Phú Mỹ; - NĐKKH:UBND xã Tân Hòa; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ việc. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Văn Thị Hiền |