vanban.org

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị A và anh Đinh Văn M.

Về con chung: Giao cháu Đinh Trọng N, sinh ngày 10-10-2018 cho chị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, lao động tự lập được. Anh M không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị A. Chị A cùng các thành viên gia đình … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Bùi Thị A và bị đơn Đinh Văn M"
  • Tòa quyết gì? Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị A và anh Đinh Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HNGĐ-ST
Ngày 13-3-2020
V/v tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Ngọc Luân.

2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quang Tất – Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị An - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2020 về “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2020/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị A, sinh năm 1981; địa chỉ: Phố N, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Bị đơn: Anh Đinh Văn M, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn X, xã S, huyện K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Bùi Thị A trình bày: Chị kết hôn với anh Đinh Văn M trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện K, tỉnh Hà Nam ngày 13-11-2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà của bố mẹ đẻ anh M ở thôn X, xã S, huyện K, tỉnh Hà Nam đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung và sự đồng cảm nên thường xảy ra đánh, cãi, chửi nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên đầu tháng 10 năm 2019 chị đã về nhà bố mẹ đẻ chị ở phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam sinh sống, vợ chồng chị đã sống ly thân từ đó đến nay, chấm dứt quan hệ vợ chồng và không ai còn quan tâm đến cuộc sống, tình cảm của nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh M, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đinh Văn M.

Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Đinh Văn M trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, thời điểm chị A về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và thời gian vợ chồng sống li thân đúng như chị A đã trình bày. Nay chị A xin ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng giữa anh với chị A không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy anh hoàn toàn nhất trí ly hôn với chị A.

Về con chung: Chị A và anh M thống nhất xác định vợ chồng anh chị có một con chung tên là Đinh Trọng N, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2018, hiện nay đang ở với chị A. Tuy nhiên, anh chị không thống nhất được việc nuôi dưỡng con chung. Cả chị A và anh M đều xin được nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu bên kia phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về con riêng: Chị A và anh M thống nhất xác định anh M có một con riêng là cháu Đinh Thị H, sinh ngày 17-3-2004, hiện nay đang ở với anh M, khi ly hôn anh chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản riêng, tài sản chung, công sức đóng góp, công nợ, đất nông nghiệp: Chị A, anh M thống nhất không có nên không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng là chị A đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; riêng anh M chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 55, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị A và anh Đinh Văn M. Về con chung: Giao cháu Đinh Trọng N, sinh ngày 10-10-2018 cho chị A trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, lao động tự lập được; anh M không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị A. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn là anh Đinh Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lí do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị A và anh Đinh Văn M là hợp pháp, anh chị đăng ký kết hôn với nhau ngày 13-11-2017 tại UBND xã S, huyện K, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận chỉ được khoảng gần nửa năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung và sự đồng cảm nên thường xảy ra đánh, cãi, chửi nhau. Đến tháng 10-2019 do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên chị A đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, anh chị li thân nhau từ đó đến nay không còn quan tâm đến tình cảm, cuộc sống của nhau nữa. Nay cả chị A và anh M đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng nhất trí thuận tình ly hôn. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân giữa chị A và anh M thực sự đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị A và anh M là hoàn toàn phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị A và anh M có một con chung tên là Đinh Trọng N, sinh ngày 10-10-2018, hiện nay đang ở với chị A. Xét yêu cầu về việc nuôi con của anh chị, Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Xét thấy hiện nay cháu N mới được hơn một tuổi nên cần có sự chăm sóc của mẹ mới đảm bảo sự phát triển toàn diện của cháu; ngoài ra hiện nay chị A có công việc và thu nhập ổn định, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị A, giao cho chị A được quyền nuôi dưỡng cháu N, anh M không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị A là hoàn toàn phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con riêng; tài sản chung, tài sản riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Chị A và anh M cùng thống nhất xác định không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị A và anh M thuận tình ly hôn nên mỗi bên phải chịu 50% án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 55, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

1. Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị A và anh Đinh Văn M.

2. Về con chung: Giao cháu Đinh Trọng N, sinh ngày 10-10-2018 cho chị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, lao động tự lập được. Anh M không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị A.

Chị A cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N.

3. Án phí: Chị Bùi Thị A và anh Đinh Văn M mỗi người phải chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị A và anh M. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị A đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004158 ngày 03-01-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng thành án phí ly hôn sơ thẩm chị A, anh M phải chịu. (Chị A và anh M đã thi hành xong án phí ly hôn sơ thẩm).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho chị A biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; anh M vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ