vanban.org

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng H.

Về hôn nhân: bà Lê Thị Hồng H được ly hôn với ông Ưng Minh Đ. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 15/5/2020
V/v ly hôn, tranh chấp quyền nuôi
con và cấp dưỡng nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Lộc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Hoàng Việt.

Bà Thạch Thị Mỹ Kim.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Nhả, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bé Em - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 398/2020/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 29 tháng 4 nam 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng H, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp A, xã B, thành phố P, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: Ồng Ưng Minh Đ, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 52/2 đường C, khóm M, phường N, thành phố P, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 16 tháng 9 năm 2019 và lời trình bày của bà Lê Thị Hồng H trong quá trình giải quyết vụ án: Vào năm 2008 bà và ông Ưng Minh Đ có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn vào ngày 22/02/2008 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, giấy chứng nhận kết hôn số 19/2008, quyển số 01. Sau khi kết hôn thì cuộc sống vợ chồng của ông bà tương đối hạnh phúc nhưng sau đó đến khoảng năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hạnh phúc không được trọn vẹn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng ý kiến, ông Đ không lo làm ăn để phụ giúp gia đình, vợ chồng thường xuyên cải nhau. Vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2017 đến nay. Hiện tại ông Ưng Minh Đ đang sống tại nhà địa chỉ số 52/2 đường B, khóm M, phường N, thành phố P, tỉnh Trà Vinh. Nhận thấy tình cảm không còn nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Trong thời gian chung sống bà H và ông Đ có một con chung tên Ưng Chí N, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2012 hiện tại đang sống chung với bà H, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung: Bà H khai không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà H khai bà và ông Đ không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Ưng Minh Đ mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Ưng Minh Đ vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

1. Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự của Thẩm phán về việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã chấp hành có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, còn bị đơn thì vắng mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

2. Về nội dung vụ án: Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân thành phố P đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tôt tụng dân sự năm 2015; về quan hệ hôn nhân bà H ông Đ có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp, mâu thuẫn giữa bà H và ông Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ. Đối với ông Đ mặc dù đã được Tòa án triệu tập để hòa giải mâu thuẫn của vợ chồng nhưng lại vắng mặt cho thấy ông Đ không có thiện chí hòa giải để đoàn tụ vợ chồng; về con chung bà H yêu cầu được nuôi dưỡng và yêu cầu ông Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con tròn 18 tuổi, xét đây là yêu cầu chính đáng nên đề nghị Tòa án chấp nhận về tài sản chung nợ chung bà H khai bà và ông Đ không có tài sản chung, không có nợ ai không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa Tòa án nhân định:

Về tố tụng: Bà Lê Thị Hồng H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ưng Minh Đ và yêu cầu giải quyết quyền nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình và quan hệ tranh chấp là ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con. Theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Ưng Minh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Ưng Minh Đ.

Nội dung yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng H và ông Ưng Minh Đ tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn ngày 22/02/2008 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, giấy chứng nhận kết hôn số 19/2008, quyển số 01. Do đó bà H và ông Đ đã xác lập quan hệ hôn nhân theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Qua đơn khởi kiện, lời trình bày của bà H trong quá trình giải quyết vụ án nhận thấy trong quá trình chung sống giữa bà H và ông Đ đã xảy ra bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cải, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc từ năm 2017. Vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay. Tại phiên tòa hôm nay bà H kiên quyết giữ yêu cầu ly hôn với Đ, còn Đ mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia hòa giải để hàn gắn gia đình nhưng ông Đ vắng mặt cho thấy ông Đ không có thiện chí hàn gắn gia đình.

Từ những căn cứ và nhận định nêu trên xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Lê Thị Hồng H và ông Ưng Minh Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà H yêu cầu được ly hôn với ông Đ là có cơ sở chấp nhận và phù hợp theo quy định tại các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: bà Lê Thị Hồng H và ông Ưng Minh Đ có 01 con chung tên Ưng Chí N, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2012 hiện đang sống với bà H. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay ông Đ vắng mặt nên không có lời trình bày. Nhưng xét thấy cháu Ưng Chí N, hiện tại đang sống với mẹ là bà Lê Thị Hồng H và cháu N có nguyện vọng sống với bà H nên chấp nhận yêu cầu của bà H giao con chung tên Ưng Chí N cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị Hông H yêu cầu ông Ưng Minh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cháu Ưng Chí N mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Xét việc cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn phải căn cứ vào chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng, học hành của con và khả năng của mỗi bên. Nay bà H yêu cầu ông Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng là phù hợp với chi phí tối thiểu với việc nuôi con chung nên có căn cứ chấp nhận.

Về tài sản chung: Bà Lê Thị Hồng H khai không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

Về nợ chung: Bà Lê Thị Hồng H khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bà Lê Thị Hồng H phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35,39, 147 , 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 53, 56, 57, 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng H.

1. Về hôn nhân: bà Lê Thị Hồng H được ly hôn với ông Ưng Minh Đ.

2. Về con chung:

Giao con chung tên Ưng Chí N, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2012 cho bà Lê Thị Hồng H tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con ông Ưng Minh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Ưng Chí N, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2012 số tiền là 1.000.000 đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng, thời gian cấp dưỡng vào ngày 16 hàng tháng, kể từ ngày 16 tháng 6 năm 2020 cho đến khi cháu Ưng Chí Ng tròn 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung: Bà Lê Thị Hồng H khai không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Bà Lê Thị Hồng H khai không có nợ chung không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

5. Về án phí:

Bà Lê Thị Hồng H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Lê Thị Hồng H đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai số 0006172, ngày 10 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P nên bà Lê Thị Hồng H không phải nộp tiếp.

Ông Ưng Minh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố P.

6. Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ