- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị N đối với anh Phạm Văn C. Chị Võ Thị N được ly hôn với anh Phạm Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/HNGĐ-ST Ngày: 10/8/2020 V/v Tranh chấp: “Xin ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tư
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Hoạt;
2. Ông Lường Tuấn Nhã.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Xuân Trà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Chung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 8 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 66/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2020 về tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị N sinh năm 1988; Nơi ĐKNKTT: Tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ở hiện nay: Ký túc xá V, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Anh Phạm Văn C sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
(Chị N, anh C đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, chị Võ Thị N trình bày:
Chị kết hôn với anh Phạm Văn C trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 22/02/2017. Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng thời gian mấy tháng đầu hòa thuận, hạnh phúc, nhưng về sau cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng trong sinh hoạt hàng ngày, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian ly thân tình cảm vợ chồng không hàn gắn được, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên kiên quyết xin được ly hôn với anh Phạm Văn C.
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung tên là Phạm Anh Đ sinh ngày 11/4/2018, con chung khỏe mạnh và phát triển bình thường. Khi ly hôn nguyện vọng của chị là giao con chung cho anh Phạm Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung đến khi đủ 18 tuổi và chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung:
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết;
+ Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Phạm Văn C trong quá trình tố tụng trình bày:
Về thời điểm kết hôn đúng như chị N trình bày, tuy nhiên sau khi kết hôn hai vợ chồng chỉ sống hòa thuận, hạnh phúc trong mấy tháng đầu, sau đó cuộc sống giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều bất đồng trong sinh hoạt hàng ngày, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian ly thân tình cảm vợ chồng không hàn gắn được, không còn quan tâm đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị N có đơn xin ly hôn, anh nhất trí.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Phạm Anh Đ sinh ngày 11 tháng 4 năm 2018, con chung khỏe mạnh và phát triển bình thường, hiện đang ở cùng với anh C tại tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Khi ly hôn nguyện vọng của anh là được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đúng như chị N trình bày.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị N và anh C đều có đơn đề nghị Tòa án không mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vì có lý do chính đáng nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt; căn cứ theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án theo luật định.
- Về nội dung: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị N về việc xin ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn; Về án phí: Chị Võ Thị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Chị Võ Thị N có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giải quyết vụ việc xin ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
Chị Võ Thị N và anh Phạm Văn C đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
. Về nội dung: Chị Võ Thị N và anh Phạm Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 22/02/2017. Đây là hôn nhân tự nguyện, không vi phạm các điều cấm kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, hôn nhân của chị N và anh C là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, giữa hai vợ chồng mấy tháng đầu hòa thuận, hạnh phúc, nhưng từ năm 2018 đến nay, tình cảm vợ chồng không còn, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều bất đồng trong sinh hoạt hàng ngày, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, nên chị N và anh C đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa.
Chị N làm đơn xin ly hôn anh C vì thấy rằng quá trình chung sống vợ chồng không có hạnh phúc vì mục đích hôn nhân không đạt được. Sau khi kết hôn vợ chồng chỉ chung sống với nhau được thời gian ngắn đã ly thân không còn quan tâm chăm sóc và liên lạc gì với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập để hòa giải nhưng anh C và chị N đều vắng mặt và có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Do vậy, Tòa án không thể tiến hành hòa giải để anh chị về đoàn tụ với nhau được. Qua xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân, cuộc sống vợ chồng giữa chị N và anh C cho thấy: Anh C và chị N sau khi kết hôn chỉ chung sống với nhau khoảng vài tháng thì chị N đã bỏ đi khỏi địa phương từ đó cho đến nay. Điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh C đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N.
. Về con chung: Vợ chồng anh C và chị N có 01 con chung tên là Phạm Anh Đ sinh ngày 11/4/2018, con chung khỏe mạnh và phát triển bình thường. Từ khi ly thân đến nay, cháu Đ sống trực tiếp với anh C. Khi ly hôn, anh C có nguyện vọng được nuôi con chung và chị N cũng đề nghị giao con chung cho anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xét thấy, con chung còn nhỏ, đang sống ổn định với anh C, cháu phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần; mặt khác, hiện nay thu nhập của anh C là hơn 8.000.000 đồng (tám triệu đồng)/ tháng. Do đó cần tiếp tục giao con chung cho anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp.
. Về yêu cầu cấp dưỡng: Anh C không yêu cầu nên không xét.
. Về tài sản chung và nợ chung:
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về án phí: Chị Võ Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị N đối với anh Phạm Văn C. Chị Võ Thị N được ly hôn với anh Phạm Văn C.
2. Về con chung: Giao con chung tên là Phạm Anh Đ sinh ngày 11/4/2018, con chung khỏe mạnh và phát triển bình thường cho anh Phạm Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về tài sản chung, nợ chung:
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí: Chị Võ Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000111 ngày 02/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn. Chị Võ Thị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Võ Thị N và anh Phạm Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn (01b); - VKSND tỉnh Bắc Kạn (01b); - VKSND tp. Bắc Kạn (02b); - Chi cục THADS tp. Bắc Kạn ( 01b, khi Án có hiệu lực); - Các đương sự (01b); - UBND phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn (01b); - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Tạ Văn Tư |