vanban.org

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Th được ly hôn anh Đỗ Văn Ch.

Về con chung: 1. Giao cháu Đỗ Thanh Nh, sinh ngày 05-12-2006 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị Th và anh Ch tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hoặc cho đến khi chị Th và anh Ch có sự thay đổi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Th và anh Đỗ Văn Ch ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Trần Thị Th được ly hôn anh Đỗ Văn Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN ĐỒ SƠN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HNGĐ-ST
Ngày 17-4-2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Ninh

Bà Lưu Thị Hồng Thơm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Việt Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Đồ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 15/2019/TLST-HNGĐ ngày 24-12-2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10-3-2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10-4-2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Th, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Ng, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn Ch, sinh năm 1977; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố T, phường Ng, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Cơ sở cai nghiện ma túy số H, thôn Gi, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 27-11-2019, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị Th trình bày: Chị xây dựng hạnh phúc với anh Ch trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Ng (nay là phường H), quận Đ, thành phố Hải Phòng vào ngày 14-7-1999. Sau khi kết hôn, chị và anh Ch sống chung tại tổ dân phố T, phường Ng, quận Đ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống, bất đồng với nhau về phát triển kinh tế gia đình nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Anh Ch ham chơi theo bạn bè, không quan tâm gì đến vợ con. Cuối năm 2015, anh Ch bị Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn xử phạt 21 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Anh Ch nghiện chất ma túy nên không hỗ trợ được gì về kinh tế cho gia đình. Tháng 7 năm 2019, anh Ch bị Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số H, thành phố Hải Phòng. Nay, chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ch.

Về con chung: Chị và anh Ch có 02 con chung là Đỗ Quang V, sinh ngày 14-7-1999 đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và Đỗ Thanh Nh, sinh ngày 05-12-2006. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi cháu Thanh Nh và không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Đỗ Văn Ch trình bày: Anh thống nhất về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, cũng như nguyên nhân mâu thuẫn tình cảm vợ chồng đúng như chị Th đã trình bày. Hiện nay, vợ chồng đang sống ly thân, mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm gì đến nhau về tình cảm và kinh tế. Nay, chị Th có đơn ly hôn, anh cũng xét thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nên đồng ý ly hôn với chị Th.

Về con chung: Anh và chị Th có 02 con chung là Đỗ Quang V, sinh ngày 14-7-1999 đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và Đỗ Thanh Nh, sinh ngày 05-12-2006. Anh đề nghị giao cháu Thanh Nh cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng vì hiện nay anh đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số H, thôn Gi, xã Đ, huyện T nên không có điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh và chị Th tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về hôn nhân, mâu thuẫn giữa chị Th và anh Ch đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Th được ly hôn anh Ch; về con chung, con Đỗ Quang V đã đủ 18 tuổi nên không đặt vấn đề giải quyết, giao con Đỗ Thanh Nh cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng; không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung.

Chị Th phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị Th nộp đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Đỗ Văn Ch tại Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn. Bị đơn là anh Ch có nơi ĐKHKTT tại tổ dân phố T, phường Ng, quận Đ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Th và anh Ch.

Về hôn nhân:

Chị Th và anh Ch thống nhất trình bày: Anh chị xây dựng hạnh phúc trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Ng (nay là phường H), quận Đ, thành phố Hải Phòng vào ngày 14-7-1999. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Ch nghiện chất ma túy đã nhiều năm, mặc cho chị Th và gia đình nhiều lần khuyên giải nhưng anh Ch vẫn không từ bỏ được. Hiện nay, anh Ch đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số H, thôn Gi, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng. Chị Th và anh Ch đều xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị được thuận tình ly hôn.

Xét thấy, chị Th và anh Ch đã không còn yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình; không chung sống với nhau; không tôn trọng và giữ gìn danh dự cho nhau; vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị Th và anh Ch đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được cần căn cứ theo khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Th.

Về con chung: Chị Th và anh Ch có 02 con chung là Đỗ Quang V, sinh ngày 14-7-1999 đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và Đỗ Thanh Nh, sinh ngày 05-12-2006. Anh chị thống nhất đề nghị giao cháu Nh cho chị Th trực tiếp nuôi và không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử, xét: Việc nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chung hai bên cha mẹ đều có tình cảm, quyền và trách nhiệm như nhau; để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm lý, sự phát triển về mọi mặt của con, nguyện vọng của con cũng như thỏa thuận về việc nuôi con khi ly hôn giữa anh chị nên cần áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Nh cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hai bên đương sự tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Th và anh Ch không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Th là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về quyền kháng cáo: Chị Th và anh Ch có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Th được ly hôn anh Đỗ Văn Ch.

2. Về con chung:

2.1. Giao cháu Đỗ Thanh Nh, sinh ngày 05-12-2006 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị Th và anh Ch tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hoặc cho đến khi chị Th và anh Ch có sự thay đổi khác về người trực tiếp nuôi con, về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

2.2. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0009561 ngày 24-12-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; chị Th đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Th và anh Ch có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ