vanban.org

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Thanh T được ly hôn với chị Bùi Thị H.

Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thái C, sinh ngày 27-4-2004, cho chị H trựng tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tuấn Hằng"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Thanh T được ly hôn với chị Bùi Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HNGĐ-ST
Ngày 19-02-2020
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Đức Vịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Khanh

Ông Nguyễn văn Quyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 272/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2019, về việc Ly hôn và tranh chấp nuôi con. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2020/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh T; nơi cư trú: Khu phố TH, thị trấn VB, huyện VB, thành phố Hải Phòng, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

- Bị đơn: Chị Bùi Thị H; nơi cư trú: Khu phố TH, thị trấn VB, huyện VB, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 8 năm 2019, bản tự khai và tại phiên hòa giải, nguyên đơn là anh Nguyễn Thanh T trình bày:

Anh và chị Bùi Thị H kết hôn với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh Bảo, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng từ ngày 28-6-2000. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh Phc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, lối sống, không có tiếng nói chung trong quan hệ tình cảm tâm sinh lý, vợ chồng không tin tưởng nhau trong quản lý kinh tế cũng như trong quan hệ hôn nhân nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xúc phạm không tôn trọng nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người sống một nơi, không quan tâm đến nhau, cắt đứt mọi quan hệ nghĩa vụ vợ chồng. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Bùi Thị H.

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là Nguyễn Thái Ph, sinh ngày 01-6-2000 và Nguyễn Thái C, sinh ngày 27-4-2004. Hiện con chung Nguyễn Thái Ph đã trưởng thành nên anh không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn, anh đồng ý giao con chung Nguyễn Thái C cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh và chị H xin tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 19 tháng 9 năm 2019 và các phiên hòa giải chị Bùi Thị H trình bày:

Chị xác nhận về điều kiện kết hôn, thời gian và hoàn cảnh kết hôn như nội dung anh T trình bày là đúng. Vợ chồng chung sống đến tháng 3 năm 2019, thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T có quan hệ ngoài hôn nhân với người phụ nữ khác, không quan tâm đến gia đình vợ con, bản thân chị và gia đình đã nhiều lần khuyên giải anh T nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người sống một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay, xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn nhưng chị không đồng ý ly hôn với anh T vì con còn nhỏ cần sự chăm sóc của cả bố và mẹ.

Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Nguyễn Thái Ph, sinh ngày 01-6-2000 và Nguyễn Thái C, sinh ngày 27-4-2004. Hiện con chung Nguyễn Thái Ph đã trưởng thành nên chị không yêu cầu giải quyết. Trường hợp vợ chồng ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thái C. Việc cấp dưỡng nuôi con chị và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xác định quan hệ tranh chấp về Ly hôn, tranh chấp nuôi con là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, về thẩm quyền đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, vi phạm này không ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 83 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử xét những nội dung sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Thanh T được ly hôn với chị Bùi Thị H.

+ Về con chung: Đối với con chung Nguyễn Thái Ph, sinh ngày 01-6-2000, đã trưởng thành nên không đặt ra đề giải quyết; đối với con chung Nguyễn Thái C, sinh ngày 27-4-2004, đề nghị giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận nên không đặt ra để giải quyết.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Do hai bên xin tự thỏa thuận nên không đặt ra để giải quyết.

+ Về án phí: Anh T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Thanh T và bị đơn là chị Bùi Thị H có nơi cư trú: Khu phố TH, thị trấn VB, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo.

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đều có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, có bản tự khai và tham gia đầy đủ các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Như vậy, nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn là chị Bùi Thị H đã nhận được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án về việc thông báo thụ lý vụ án, thông báo về việc giao nộp chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng tại phiên tòa lần 1 và lần 2 đều vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan, chị H không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, vi phạm này không ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án. Vì quá trình giải quyết vụ án chị H đã có quan điểm về giải quyết vụ án; anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là anh Nguyễn Thanh T và bị đơn là chị Bùi Thị H.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh T và chị Bùi Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh Bảo, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng từ ngày 28-6-2000. Như vậy, hôn nhân này là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh Phc được hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm, lối sống, không hợp nhau về tính cách, tâm sinh lý, không tin tưởng nhau trong quan hệ hôn nhân cũng như quản lý kinh tế nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xúc phạm và không tôn trọng nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau, cắt đứt mọi quan hệ nghĩa vụ vợ chồng. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T xin ly hôn nhưng chị H không đồng ý, chị cho rằng mặc dù tình cảm vợ chồng không còn nhưng vì con còn nhỏ cần có sự chăm sóc của cả bố. Tòa án tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, chị H cũng không đưa ra được biện pháp gì để khắc phục những mâu thuẫn và hàn gắn tình cảm vợ chồng, tại các phiên tòa chị đều vắng mặt. Điều đó chứng tỏ chị không thực sự muốn níu kéo tình cảm vợ chồng, việc chị không đồng ý ly hôn chỉ nhằm gây khó khăn cho anh T và kéo dài sự ràng buộc không cần thiết. Hơn nữa, qua xác minh tại địa phương đều thể hiện vợ chồng anh chị có xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân nên có đủ căn cứ xác định, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Thanh T xin ly hôn với chị Bùi Thị H.

Về con chung: Anh T và chị H có 02 con chung là Nguyễn Thái Ph, sinh ngày 01-6-2000 và Nguyễn Thái C, sinh ngày 27-4-2004. Con chung Nguyễn Thái Ph đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Khi ly hôn, chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thái C. Xét thấy, con chung Nguyễn Thái C đang sinh sống cùng với chị H, có nguyện vọng được ở với mẹ, chị H có việc làm, có thu nhập đảm bảo được việc nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con chung. Mặt khác, anh T cũng đồng ý giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung là Nguyễn Thái C cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình, phù hợp với nguyện vọng của con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, anh T và chị H xin tự giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh T và chị H đều xin tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Thanh T được ly hôn với chị Bùi Thị H.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thái C, sinh ngày 27-4-2004, cho chị H trựng tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Hoa đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0007855 ngày 17 tháng 9 năm 2019, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Anh T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Anh T và chị H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./

Cỡ chữ