vanban.org

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Quách Văn C được ly hôn với chị Đồng Thị H.

Về con chung: Giao cả 02 con chung là Quách Thị Thu H, sinh ngày 02/02/2011 và Quách Nhật M, sinh ngày 27/12/2015 cho anh Quách Văn C trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình giữa anh C và chị H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Quách Văn C được ly hôn với chị Đồng Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN LÃNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HNGĐ - ST
Ngày: 26 - 3 - 2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Nhòng.

Ông Vũ Đình Bảng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 251/2019/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 09/3/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Quách Văn C, sinh năm 19xx; ĐKNKTT: Thôn L, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Chị Đồng Thị H, sinh năm 19xx; ĐKNKTT: Thôn L, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; tạm trú: Số 14 đường D4 khu ĐT-TM-DV S T, khu phố T, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Quách Văn C trình bày: Anh C và chị Đồng Thị H tự nguyện xây dựng gia đình với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tự Cường, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 49 ngày 10/11/2009.

Quá trình chung sống: Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng có tính cách, lối sống không hợp nhau nên cuộc sống chung không có hạnh phúc. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng nên từ tháng 5 năm 2018 chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh C xác nhận: Tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đồng Thị H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Quách Thị Thu H, sinh ngày 02/02/2011 và Quách Nhật M, sinh ngày 27/12/2015. Ly hôn, anh C nhận nuôi cả 02 con, việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh C xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Đồng Thị H trình bày: Chị H thống nhất với anh C về điều kiện, hoàn cảnh, thời gian kết hôn, về con chung, tài sản chung cũng như về nguyên nhân mâu thuẫn. Chị H xác nhận từ giữa năm 2018 đến nay vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ nên chị đồng ý ly hôn với anh C.

Về con chung: Kể từ khi vợ chồng sống ly thân, cả 02 con đều do anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Để ổn định cuộc sống và việc học tập của các con, chị H nhất trí giao cả 02 con chung cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tiến hành xác minh tại địa phương và gia đình, kết quả cho thấy: Anh C và chị H tự nguyện xây dựng gia đình với nhau có đăng ký kết hôn theo luật định, đến nay vợ chồng có 02 con chung. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên từ giữa năm 2018 đến nay hai bên đã sống ly thân mỗi người một nơi.

Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Quách Văn C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng theo quy định của pháp luật, từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu Tòa án thu thập đã thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nay anh C có yêu cầu ly hôn, chị H cũng đồng ý. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh Quách Văn C được ly hôn với chị Đồng Thị H.

Về con chung: Căn cứ vào các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của các bên, giao cả 02 con chung là Quách Thị Thu H, sinh ngày 02/02/2011 và Quách Nhật M, sinh ngày 27/12/2015 cho anh C trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Quách Văn C có đơn khởi kiện xin ly hôn với chị Đồng Thị H có nơi ĐKNKTT: Thôn Lâm Cao, xã Tự Cường, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

Về thủ tục tố tụng tại Tòa: Bị đơn chị Đồng Thị H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa anh Quách Văn C và chị Đồng Thị H tuân thủ đúng quy định tại Điều 8; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét quan hệ hôn nhân giữa anh C và chị H mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay anh C có yêu cầu được ly hôn với chị H, chị H nhất trí lý hôn. Căn cứ vào các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh Quách Văn C được ly hôn với chị Đồng Thị H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Quách Thị Thu H, sinh ngày 02/02/2011 và Quách Nhật M, sinh ngày 27/12/2015. Ly hôn anh C yêu cầu được nuôi cả hai con. Xét, kể từ thời điểm vợ chồng sống ly thân, anh C là người trực tiếp nuôi cả 02 con, mặt khác chị H cũng nhất trí giao cả 02 con cho anh C nuôi nên việc giao con cả 02 cho anh C nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh chăm sóc nuôi dạy con, phù hợp với nguyện vọng của con và các quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của các bên, giao cả 02 con cho anh C trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con, hai bên không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Anh C và chị H đều xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét cử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, anh Quách Văn C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Quách Văn C được ly hôn với chị Đồng Thị H.

- Về con chung: Giao cả 02 con chung là Quách Thị Thu H, sinh ngày 02/02/2011 và Quách Nhật M, sinh ngày 27/12/2015 cho anh Quách Văn C trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về án phí: Anh Quách Văn C phải chịu 300.000 đồng Ba trăm nghìn đ ng án phí ly hôn sơ thẩm. Anh C đã nộp đủ số tiền này tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011663 ngày 05 tháng 12 năm 2019.

- Về quyền kháng cáo:

Anh Quách Văn C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Chị Đồng Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ