vanban.org

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị Trịnh Thu L và anh Trần Thanh P."
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 11/3/2020
“V/v xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG- TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoàng Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Hùng;

Ông Huỳnh Trung Thảo.

Thư ký phiên toà: Ông Lê Trần Minh Châu- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên toà: Không tham gia.

Vào ngày 11/3/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 15/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2020, về việc tranh chấp “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thu L, sinh năm 1975.

Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Trần Thanh P, sinh năm 1977.

Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn và bị đơn đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 03/01/2020; biên bản hòa giải ngày 13/02/2020 và tại phiên tòa chị Trịnh Thu L trình bày: Chị và anh P kết hôn với nhau vào năm 1998, không có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn chị và anh P có sinh được 02 đứa con chung tên Trần Thái N sinh ngày 01/01/2001 và Trần Anh H, sinh ngày 18/4/2005. Thời gian sau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống.

Nay chị thấy tình cảm giữa chị với anh P không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh P.

Về con chung: Đối với cháu N hiện nay đã trưởng thành có khả năng lao động tự tạo thu nhập nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu H hiện đang sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi cháu H, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nợ ai và cũng không có ai nợ lại vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 17/01/2012; biên bản hòa giải ngày 13/02/2020 và tại phiên tòa anh Trần Thanh P trình bày: Thừa nhận anh và chị L kết hôn với nhau vào năm 1998, không có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chung sống rất hạnh phúc và có sinh được 02 đứa con chung tên Trần Thái N sinh ngày 01/01/2001 và Trần Anh H, sinh ngày 18/4/2005. Thời gian gần đây giữa anh và chị L có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống.

Nay chị L yêu cầu được ly hôn với anh, anh thống nhất.

Về con chung: Đối với cháu N hiện nay đã trưởng thành có khả năng lao động tự tạo thu nhập nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu H, khi ly hôn anh đồng ý giao cháu H cho chị L nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nợ ai và cũng không có ai nợ lại vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Trịnh Thu L với anh Trần Thanh P là hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, nhưng anh, chị không có đăng ký kết hôn theo luật định nên đã vi phạm vào Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

Do đó nghĩ nên không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trịnh Thu L với anh Trần Thanh P là phù hợp với Điều 9, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị L và anh P có sinh được 02 đứa con chung tên Trần Thái N sinh ngày 01/01/2001 và Trần Anh H, sinh ngày 18/4/2005. Đối với cháu N hiện nay đã trưởng thành có khả năng lao động tự tạo thu nhập nuôi sống bản thân, tại phiên tòa chị L và anh P không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với cháu H, chị L có yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H, anh P cũng đồng ý giao cháu H cho chị L nuôi dưỡng. Mặc khác, tại bản khai ngày 13/02/2020 cháu H cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với chị L, nghĩ nên tiếp tục giao cháu H cho chị L nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Anh P không cấp dưỡng nuôi con chung, do chị L không yêu cầu.

Anh P được quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa chị L và anh P đều trình bày, phần tài sản chung đã thỏa thuận giải quyết xong nên không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, 14, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án tuyên xử:

1/ Về hôn nhân:

Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trịnh Thu L với anh Trần Thanh P.

2/ Về con chung:

Giao con chung của chị Trịnh Thu L với anh Trần Thanh P tên Trần Anh H, sinh ngày 18/4/2005, cho chị L nuôi dưỡng.

Anh Trần Thanh P không cấp dưỡng nuôi con, do chị L không yêu cầu.

Anh Trần Thanh P được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.

3/ Về án phí:

Chị Trịnh Thu L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005821 ngày 09/01/2020, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông.

Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ