vanban.org

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị CH được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.

Về án phí: Chị Vũ Thị CH phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2017/0004409 ngày 09/12/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Về quyền kháng cáo: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị CH, anh Đ ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị CH được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TAND HUYỆN LN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HNGĐ-ST
Ngày 25-02-2020
V/v ly hôn giữa chị CH và anh Đ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Từ Minh Hải

Ông Nguyễn Tiến Chỉnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lự- Thư ký Tòa án nhân dân huyện LN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LN, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Thân Mạnh Thắng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LN tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 601/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2020 giữa các Đ sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị CH, sinh năm 1971 ( có mặt)

Địa chỉ: Thôn D, xã PS, huyện LN, tỉnh Bắc Giang

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1972 ( vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn D, xã PS, huyện LN, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ghi ngày 14/11/2019 cùng các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Vũ Thị CH trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn Đ ngày 14/4/1993. Trước khi cưới hai bên có tự do tìm hiểu thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PS, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong vợ chồng về chung sống tại gia đình chồng ở thôn D, xã PS, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh Đ chơi bời, rượu chè không quan tâm đến gia đình và đánh đập chị, vợ chồng chị sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm từ tháng 01/2019. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.

- Về con chung: Chị Vũ Thị CH trình bày vợ chồng có hai đã trưởng thành chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Chị Vũ Thị CH trình bày chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm chị Vũ Thị CH có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/12/2019 bị đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Vũ Thị CH ngày 14/4/1993. Trước khi cưới hai bên có tự do tìm hiểu thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PS, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong vợ chồng về chung sống tại gia đình anh ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến tháng 9 năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do con gái anh đi lấy chồng mâu thuẫn với gia đình nhà chồng nên chị CH muốn đón con về nhà anh ở và anh không đồng ý nên vợ chồng xảy ra xô sát bất đồng trong quan điểm sống và suy nghĩ. Do mâu thuẫn nên vợ chồng anh chị sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh tế từ tháng 9/2018 đến nay. Nay chị CH làm đơn xin ly hôn anh xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, mục đích hôn nhân còn đạt được, anh không đồng ý ly hôn và mong muốn vợ chồng về đoàn tụ.

- Về con chung: Anh Nguyễn Văn Đ không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Anh Nguyễn Văn Đ không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LN tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các Đ sự chị CH chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Anh Đ chưa chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị CH.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị CH được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị CH kết hôn với anh Nguyễn Văn Đ ngày 14/4/1993 trên cơ sở tự nguyện hợp pháp anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PS, huyện LN. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh Đ chơi bời, rượu chè không quan tâm đến gia đình, vợ chồng chị sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm từ tháng 01/2019. Xét thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị CH, anh Đ đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Vũ Thị CH được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.

Về con chung: Các Đ sự không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Các Đ sự không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Vũ Thị CH phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2017/0004409 ngày 09/12/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LN, tỉnh Bắc Giang.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Vũ Thị CH và anh Nguyễn Văn Đ được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị CH được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.

2. Về án phí: Chị Vũ Thị CH phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2017/0004409 ngày 09/12/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LN, tỉnh Bắc Giang.

3. Về quyền kháng cáo:

Đ sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án./

Cỡ chữ