- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Th - Nguyễn Thị Cẩm T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Văn Th được ly hôn với chị Nguyễn Thị Cẩm T.
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHẬN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/HNGĐ-ST Ngày: 05-02-2020 V/v: “Tranh chấp về ly hôn và yêu cầu nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh;
2. Bà Vũ Thị Đào.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoàng Hạt - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 184/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/12/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2020/QĐST-HNGĐ ngày 08/01/2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Th - sinh năm 1992 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp Ph, xã T1, huyện T2, tỉnh V.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm T - sinh năm 1994 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Ph, xã V, huyện G, tỉnh K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 02/7/2019 và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Văn Th trình bày: Tôi và vợ tôi kêt hôn vào năm 2013, hôn nhân tự nguyện và chúng tôi được cha mẹ hai tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương. Chúng tôi có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T1, huyện T2, tỉnh V vào ngày 26/7/2013.
Sau khi kết hôn vợ chồng tôi sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên cãi vã và vợ tôi đã dẫn con tôi bỏ địa phương đi từ năm 2016 nên chúng tôi đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay, xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với vợ tôi là Nguyễn Thị Cẩm T.
Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi có 01 người chung tên Nguyễn Ngọc H - sinh ngày 12/01/2014, hiện nay con đang sống với vợ tôi nên tôi đồng ý giao cho vợ tôi tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, tôi không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản chung và cũng không thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyện vọng: Về hôn nhân tôi xin được ly hôn với vợ tôi là Nguyễn Thị Cẩm T.
Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Như tôi đã trình bày ở trên, tôi không có yêu cầu gì thêm.
Đối với chị Nguyễn Thị Cẩm T trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Tiên nhiều lần nhưng chị vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang có ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo tống đạt đúng quy định nhưng vắng mặt tại phiên là không tuân thủ quy định của pháp luật. Tuy nhiên, còn vi phạm về thời gian đưa vụ án ra xét xử nên đề nghị Hội đồng xét xử khắc phục.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự cũng như tại phiên tòa hôm nay, đối chiếu với các quy định của pháp luật đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Nguyễn Văn Th được ly hôn với chị Nguyễn Thị Cẩm T. Về con chung: Ghi nhận việc anh Th tự nguyện giao cháu Nguyễn Ngọc H - sinh ngày 12/01/2014 cho chị T được tiếp tục, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Miễn xét. Về tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa anh Nguyễn Văn Th và chị Nguyễn Thị Cẩm T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T được Tòa án thông báo tìm kiếm chị trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng tại nơi chị có hộ khẩu thường trú theo quy định của pháp luật nhưng chị T không có mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Tiên là phù hợp.
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Th và chị Nguyễn Thị Cẩm T kết hôn với nhau vào năm 2013, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T1, huyện T2, tỉnh V vào ngày 26 tháng 7 năm 2013. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của anh Thvà chị T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Dù hôn nhân của anh Th và chị T là hôn nhân tự nguyện nhưng trước khi kết hôn anh chị chưa tìm hiểu kỹ cá tính của nhau vì vậy khi xác lập cuộc sống chung vợ chồng thì lại bộc lộc ra những cá tính không phù hợp. Anh Thcho rằng vợ chồng bất đồng trong quan trong cuộc điểm sống và thường xuyên cãi vã nên chị T đã dẫn theo con bỏ địa phương đi từ năm 2016 đến nay nhưng không biết đi đâu. Ngày 28/11/2019 và ngày 16/12/2019 Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng anh chị đoàn tụ nhưng chị T không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của chị T. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2016 đến nay do chị T đã bỏ phương, mặc dù anh Th tìm kiếm nhưng đến nay vẫn không biết chị T ở đâu. Tại phiên tòa anh Th tỏ rõ thái độ không còn yêu thương chị T và cương quyết xin ly hôn với chị T. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn anh chị đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Th.
Đối với chị Nguyễn Thị Cẩm T, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án kết hợp với chính quyền địa phương trực tiếp đến nhà chị T tống đạt các văn bản đúng theo qui định của pháp luật và thông báo cho chị T trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng tại nơi chị có hộ khẩu thường trú theo quy định của pháp luật nhưng chị T không có mặt tại Tòa án để làm các văn bản gửi cho Tòa án nên không có căn cứ để xem xét ý kiến của chị T. Do đó, HĐXX thống nhất xét xử vắng mặt chị theo qui định của pháp luật.
Về con chung: Anh Th xác định anh và chị T có 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc H - sinh ngày 12/01/2014. Tại phiên tòa xét thấy, hiện nay cháu H đang sống cùng với chị T do chị T đã dẫn theo cháu H bỏ địa phương đi từ năm 2016 đến nay và anh Th cũng đồng ý giao cháu H cho chị T tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của anh Th.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh Th không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con và chị T cũng không thể hiện yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Th có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở anh thực hiện quyền này. Khi cần thiết, anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Th xác định anh và chị T không có tài sản chung và không thiếu nợ ai nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa sau khi nghe lời trình bày của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng anh Nguyễn Văn Th phải nộp do anh có yêu cầu xin ly hôn nhưng anh được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004223, ngày 18/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, anh Th đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm. Về chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng anh Th tự nguyện nộp và đã nộp xong.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Văn Th được ly hôn với chị Nguyễn Thị Cẩm T.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc H - sinh ngày 12/01/2014 cho chị T được tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Miễn xét.
Anh Nguyễn Văn Th có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở anh thực hiện quyền này. Khi cần thiết, anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
4. Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX miễn xét.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng anh Nguyễn Văn Th phải nộp do anh có yêu cầu xin ly hôn nhưng anh được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004223, ngày 18/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, anh Th đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm. Về chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng anh Th tự nguyện nộp và đã nộp xong.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án là ngày 05/02/2020. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh; - VKS huyện Gò Quao; - Chi cục THA huyện Gò Quao; - UBND xã Tân Phú, huyện Tam Bình; - UBND xã Vĩnh Phước A; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoài Thanh |