vanban.org

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L với anh Huỳnh Văn H.

Về con chung: Anh H được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con tên Huỳnh Thị Tuyết Nhi, sinh ngày 21-5-2002. Chị L không cấp dưỡng nuôi con. Chị L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị L tranh chấp ly hôn với anh Huỳnh Văn H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L với anh Huỳnh Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ DẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 06-02-2020
V/v: “Ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vui.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Luân

2. Bà Võ Thị Hồng Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Văn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 883/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Ô1/27A, khu phố R, Thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

Tạm trú: Ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn H, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Ô1/27A, khu phố R, Thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

Tất cả vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

Chị và anh H bắt đầu tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2001 nhưng không đăng ký kết hôn, không tổ chức lễ cưới. Trong quá trình chung sống, anh chị có một con chung tên Huỳnh Thị Tuyết N, sinh ngày 21-5-2002, tài sản chung và nợ chung không có.

Anh chị sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do kinh tế khó khăn nên thường xuyên cải vã về tiền bạc, tính tình không phù hợp không ai nhường nhịn ai, chị có khuyên anh H nhiều lần nhưng cả hai đề không hòa hợp được, từ đó chị đi làm xa và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, trong thời gian sống ly thân anh chị không gặp nhau để bàn bạc hàn gắn gia đình, mạnh ai nấy sống không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Do đó chị yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị đồng ý cho anh H được quyền nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn chị anh Huỳnh Văn H trình bày: Anh thống nhất lời trình bày của chị L, trong thời gian chung sống do không cùng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cải vã nhau từ đó cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, trong thời gian sống ly thân không ai không có thiện chí hàn gắn gia đình. Chị L yêu cầu ly hôn anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh yêu cầu được quyền nuôi dưỡng, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị L với anh H; giao cho anh H được quyền nuôi dưỡng con chung, chị L không pH cấp dưỡng nuôi con; tài sản và nợ chung, các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị L và anh Huỳnh Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị L và anh H tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2001, mặc dù có đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật, nhưng anh chị không đăng ký kết hôn. Chị L có yêu cầu ly hôn và anh H cũng đồng ý ly hôn. Xét thấy, do anh chị không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân gia đình không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị L và anh H.

Về con chung: Tại biên bản hòa giải ngày 06-01-2020, chị L và anh H thống nhất cho anh H được quyền nuôi dưỡng con tên Huỳnh Thị Tuyết Nhi, sinh ngày 21-5-2002 và tại bản tự khai ngày 06-01-2020 cháu Nhi nguyện vọng sống với anh H. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Nhi cho anh H được quyền nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Riêng việc cấp dưỡng nuôi con anh H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị L pH chịu theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 14, 53 và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L với anh Huỳnh Văn H.

2. Về con chung: Anh H được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con tên Huỳnh Thị Tuyết Nhi, sinh ngày 21-5-2002. Chị L không cấp dưỡng nuôi con.

Chị L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh H không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí: Chị L pH chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình. Được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000011 ngày 27/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu. Ghi nhận chị L đã nộp đủ tiền án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân xã và nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ