vanban.org

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tô Thị Diễm M và anh Nguyễn Chánh Đ.

Về nuôi con chung: Giao cho chị Tô Thị Diễm M được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tô Ý V, sinh ngày 07/02/2018 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Đ chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm và chăm sóc con chung cho anh Đ không ai có quyền cản trở. Về tài sản chung; nợ chung: Khai không có, không yêu cầu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa nguyên đơn chị Tô Thị Diễm M với bị đơn anh Nguyễn Chánh Đ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tô Thị Diễm M và anh Nguyễn Chánh Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 28 – 02 - 2020
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thọ

Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Châu Văn Bằng

2. Ông Nguyễn Văn Trương

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Thắm – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 288/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm /2019 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự.

1. Nguyên đơn: Chị Tô Thị Diễm M, sinh năm: 1995

(Có mặt)

Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang

Bị đơn: Anh Nguyễn Chánh Đ, sinh năm: 1995

(Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo ñôn xin ly hoân ngày 10/10/2019, các văn bản tố tụng và tại tòa, nguyên đơn chị Tô Thị Diễm M trình bày:

Trang 1

Chị và anh Nguyễn Chánh Đ tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã Đ. Anh, chị chung sống với nhau được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do anh Đ không quan tâm, chăm sóc vợ, con.

Anh chị ly thân nhau từ năm 2018 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai.

Về con chung: Có 01 con chung Nguyễn Tô Ý V, sinh ngày 07/02/2018. Từ khi ly thân đến nay, cháu Vy do chị M nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không còn khả năng hàn gắn nên chị M yêu cầu xin ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị M yêu cầu nuôi cháu V, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung; nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Chánh Đ đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa nhưng đều vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán – Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng. Đối với những người tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành còn bị đơn chưa chấp hành tốt quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu ly hôn và yêu cầu nuôi con của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Đ vắng mặt mặc dù đã được Tòa án thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân giữa chị My với anh Đ thấy rằng chị M và anh Đ tự nguyện chung sống với nhau, có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ theo đúng quy định nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Tuy nhiên, sau khi về chung sống với nhau chỉ được một thời gian ngắn thì đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến thường xuyên cự cãi nhau và ly thân nhau vào đầu năm 2018 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù anh Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không có mặt tại Tòa để cho biết ý kiến. Tuy nhiên, Tòa án đã thu

Trang 2 thập chứng cứ lấy lời khai mẹ ruột của anh Đ là bà B và được bà B cung cấp thông tin rằng giữa anh Đ và chị M phát sinh mâu thuẫn vào năm 2018 nên chị M và anh Đ ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nay anh Đ thống nhất ly hôn nhưng do bận làm ăn xa và có nói với bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt cho anh.

Từ những nêu trên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa anh, chị đã trầm trọng. thời gian ly thân cũng khá dài, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ do cả hai không có thiện chí mong muốn được toàn tụ. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị M là có căn cứ để được chấp nhận

Đối với yêu cầu xin được nuôi con của chị M thấy rằng từ khi ly thân đến nay, cháu V do chị M nuôi dưỡng, Hơn nữa, cháu V sinh ngày 07/02/2018 còn nhỏ nên rất cần có sự chăm sóc của người mẹ, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cũng đã quy định “con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi”. Trong khi bản thân anh Đ suốt quá trình giải quyết vụ án không có bất cứ ý kiến, yêu cầu được nuôi con. Do đó, cần giao cháu V cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Anh Đ chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị M chưa yêu cầu. Dành quyền thăm và chăm sóc con chung cho chị M không ai có quyền cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Khai không có, không yêu cầu nên không đề cập xem xét.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56; Điều 81; Điều 82 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tô Thị Diễm M và anh Nguyễn Chánh Đ.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Tô Thị Diễm M được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tô Ý V, sinh ngày 07/02/2018 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Đ chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm và chăm sóc con chung cho anh Đ không ai có quyền cản trở.

3. Về tài sản chung; nợ chung: Khai không có, không yêu cầu nên không xem xét.

Trang 3

4. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Tô Thị Diễm M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001308 ngày 03/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Chị M đã nộp đủ án phí.

5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ