vanban.org

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 11/02/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phùng Thị Thu H đối với ông Ha Ngoc D.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phùng Thị Thu H được ly hôn với ông Ha Ngoc D. Về án phí dân sự: Bà Phùng Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phùng Thị Thu H đối với ông Ha Ngoc D.
  • Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HNGĐ-ST
Ngày 11-02-2020
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hà Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Hưng.

Ông Nguyễn Phi Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết Mai, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Ngô Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2019 về việc ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phùng Thị Thu H; hộ khẩu thường trú tại: phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam; cư trú tại: đường P, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Ha Ngoc D; cư trú tại: Australia (Ốt-xtrây-li-a). Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Bà Phùng Thị Thu H, trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Thông qua người nhà ở Ốt-xtrây-li-a giới thiệu nên bà và ông Ha Ngoc D đã tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn theo pháp luật Việt Nam; được Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 25-3-2015. Kết hôn được khoảng 20 ngày thì ông Dtrở về Ốt-xtrây-li-a còn bà thì vẫn ở Việt Nam; trong năm 2015, ông Dcó về lại Việt Nam hai lần và vợ chồng vẫn có liên lạc với nhau bằng điện thoại; tuy nhiên, từ năm 2016 đến nay ông Dcắt đứt mọi liên lạc với bà và cũng không trở lại Việt Nam lần nào nữa. Trước đó bà có làm hồ sơ xuất cảnh qua Ốt-xtrây-li-a nhưng đến năm 2017 thì phỏng vấn không đạt. Do đó tình cảm vợ chồng cũng lạnh nhạt dần theo thời gian; nay bà xác định là không còn tình cảm vợ chồng với nhau nữa nên nguyện vọng của bà là được ly hôn với ông Dung.

- Về con chung: Bà và ông Ha Ngoc D không có con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông Ha Ngoc D không có tài sản chung và nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Ha Ngoc D không có văn bản phản hồi cho Tòa án về yêu cầu xin ly hôn của Bà Phùng Thị Thu H, cũng như không đến tham gia tố tụng tại Tòa án.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, là tuân thủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 126 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phùng Thị Thu H đối với ông Ha Ngoc D.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Nguyên đơn bà Phùng Thị Thu H là công dân Việt Nam; có địa chỉ cư trú tại số đường P, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam và bị đơn ông Ha Ngoc D; quốc tịch: Australian; cư trú tại địa chỉ: Australia, nên vụ án về ly hôn thuộc thẩm quyền chung của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, Việt Nam, theo quy định tại các Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, Điều 464 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài là bị đơn ông Ha Ngoc D bằng đường ngoại giao theo pháp luật tương trợ tư pháp. Cụ thể, Tòa án đã ủy thác cho Cơ quan có thẩm quyền của Ốt-xtrây-li-a tống đạt Thông báo thụ lý vụ án về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Phùng Thị Thu H đối với ông Ha Ngoc D và yêu cầu ông Dgửi văn bản phản hồi cho Tòa án; đồng thời, thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; cũng như thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên tòa, theo quy định tại Điều 474 và Điều 476 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 09-7-2019, người có thẩm quyền của Tòa án New South Wales đã tống đạt trực tiếp văn bản của Tòa án cho ông Ha Ngoc D. Trong quá trình giải quyết vụ án thì ông Dkhông đến Tòa án để tham gia tố tụng, cũng như không gửi lời khai, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và đến ngày mở phiên tòa lần thứ nhất thì ông Dcũng không có mặt nên Tòa án đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa mở lần thứ hai ông D vẫn không có mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông D, theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu xin ly hôn ông Ha Ngoc D của bà Phùng Thị Thu H thì thấy, do mỗi người ở một nơi, vợ chồng không thể sống gần nhau để yêu thương, chăm sóc cho nhau và cho gia đình, nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Đến nay, bà H xác định không còn tình cảm vợ chồng đối với nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn ông D của bà H là cần được chấp nhận, theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung; tài sản chung; nợ chung: Bà Phùng Thị Thu H và ông Ha Ngoc D không có con chung; không có tài sản chung; không có nợ chung, nên Tòa án không đề cập giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình bà Phùng Thị Thu H phải chịu, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài bà Phùng Thị Thu H phải chịu, theo quy định tại Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 153, Điều 464, Điều 469, khoản 1, khoản 3, điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phùng Thị Thu H đối với ông Ha Ngoc D.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phùng Thị Thu H được ly hôn với ông Ha Ngoc D.

2. Về án phí dân sự: Bà Phùng Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 001688 ngày 27 tháng 3 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng; bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Bà Phùng Thị Thu H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) theo biên lai số 001704 ngày 18 tháng 4 năm 2019, của Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng; Bà H đã nộp đủ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

4. Về chi phí thực tế thực hiện ủy thác tư pháp thanh toán cho cơ quan được ủy thác tư pháp: Bà Phùng Thị Thu H phải chịu 2.111.360 đồng (Hai triệu, một trăm mười một ngàn, ba trăm sáu mươi đồng) đã chi thanh toán cho cho Tòa án tối cao New South Wales, Australia (Ốt-xtrây-li-a), theo Chứng từ ngày 04-11-2019 của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Chi nhánh thành phố Đà Nẵng. Hoàn trả cho bà H 888.640 đồng (Tám trăm tám mươi tám ngàn, sáu trăm bốn mươi đồng) tiền tạm ứng chi phí thực tế thực hiện ủy thác tư pháp đã nộp theo biên lai số 001705 ngày 18 tháng 4 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Phùng Thị Thu H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Ha Ngoc D không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ