vanban.org

Bản án 05/2020/HC-ST — Hành chính

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 29/06/2020 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Trọng H về việc yêu cầu hủy bỏ Quyết định thu hồi đất số 3301/QĐ-UBND ngày 29/11/2016, Quyết định thu hồi đất số 1680/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND huyện V và các Quyết định phê duyệt phương án bồi thường liên quan; cùng yêu cầu hỗ trợ, bồi thư…

Về án phí sơ thẩm: Ông Bùi Trọng H được miễn án phí hành chính sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất"
  • Tòa quyết gì? Bác yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Trọng H về việc yêu cầu hủy bỏ Quyết định thu hồi đất số 3301/QĐ-UBND ngày 29/11/2016, Quyết định thu hồi đất số 1680/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND huyện V và các Quyết định phê duyệt phương án bồi thường liên quan; cùng yêu cầu hỗ trợ, bồi thư…
  • Căn cứ chính? Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 66 Luật Đất đai; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HC-ST
Ngày 29-4- 2020
V/v kH kiện quyết định hành chính,
trong việc bồi thường, hỗ trợ giải phóng
mặt bằng khi thu hồi đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Minh Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Tuấn Điệp

Ông Trần Đăng Khoa

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh- Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 78/2019/TLST-HC ngày 10 tháng 7 năm 2019 về việc “kH kiện quyết định hành chính trong việc bồi thường, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số11/2019/QĐXXST-HC ngày 10 tháng 01 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2020/QĐST-HC ngày 16 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Bùi Trọng H; địa chỉ: Thôn X, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện V, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: X, thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Đặng Văn C – Phó Chủ tịch UBND huyện V (Văn bản ủy quyền số 677/UQ-UBND ngày 16/3/2020); có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Bà Nguyễn Ngọc D- Trưởng Phòng TN-MT huyện V và bà Trần Thị C -Phó Giám đốc Trung tâm PTQĐ huyện V; có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T; địa chỉ: Thôn 5, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện, lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Người khởi kiện là ông Bùi Trọng H trình bày:

Năm 1993, vợ chồng ông (bà Nguyễn Thị Thi) mua 01 lô đất của Hợp tác xã để làm nhà ở với số tiền 12.290.000 đồng/lô (9m chiều mặt đường, chiều sâu là từ mép đường 10 đến mương nước ở sau. Đến ngày 12 tháng 4 năm 1996 gia đình ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thửa đất số 213b, tờ bản đồ số 6 xã G).

Năm 2000, dự án mở rộng QL 10 thu hồi của gia đình ông một phần đất nhưng ông không nhớ diện tích cụ thể là bao nhiêu và chỉ được đền bù là 10.000 đồng/m2.

Ngày 24/6/2015 UBND huyện V ban hành Thông báo số 365/TB-UBND thu hồi đất thực hiện dự án mở rộng QL10 và tiến hành lập biên bản kiểm kê ngày 25/12/2015, theo đó đất ở của các hộ gia đình là đất công, không bồi thường về đất và tài sản trên đất, chỉ hỗ trợ 30% phần giá trị tài sản trên đất.

Ngày 29/11/2016, UBND huyện ban hành Quyết định số 3301/QĐ-UBND về việc thu hồi 58,1 m2 đất và Quyết định số 3162/QĐ-UBND về việc phê duyệt PABTHT nhưng không bồi thường về quyền sử dụng đất và tài sản trên đất và đến ngày 16/12/2016, UBND huyện ra Thông báo số 1133/TB-UBND yêu cầu các hộ tháo dỡ, di chuyển tài sản để nhà thầu thi công.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, UBND huyện V đã ban hành các quyết định bổ sung, bồi thường tiền đất cho gia đình ông là 38,2 m2 trên tổng diện tích thực tế bị thu hồi là 85 m2.

Người khởi kiện đề nghị Tòa án:

1. Hủy bỏ Quyết định thu hồi đất số 3301/QĐ-UBND ngày 29/11/2016 của UBND huyện V, Quyết định thu hồi đất số 1680/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND huyện V và Quyết định phê duyệt phương án bồi thường liên quan đến việc thu hồi đất của ông H từ trước đến nay.

2. Yêu cầu bồi thường phần đất còn lại là 47m2 với đơn giá phù hợp thời điểm xét xử và tài sản trên phần đất này. Ngoài ra, ông H đề nghị thực hiện đúng Công văn 528/UBND-ĐC2 ngày 07/2/2017 của UBND thành phố Hải Phòng (Công văn 528), Quyết định 2680/2014/QĐ-UBND ngày 12/3/2014 của UBND thành phố Hải Phòng và Nghị định 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010 của Chính phủ.

* Đại diện người bị kiện thống nhất với lời khai của người khởi kiện về nguồn gốc thửa đất, diện tích đất thu hồi năm 2015, đồng thời trình bày thêm:

Theo Biên bản họp xác định nguồn gốc sử dụng đất ngày 20/12/2016 giữa Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, UBND, UBMT Tổ quốc xã G xác định: Thửa đất số 213b có nguồn gốc do UBND xã G giao trái thẩm quyền có thu tiền cho ông Bùi Trọng H, sử dụng từ năm 1995.

Theo Báo cáo tình hình cấp đất làm nhà ở từ năm 1993 đến năm 1998 ngày 30/8/1998 của UBND xã G gửi thanh tra huyện V và Biên bản xác định nguồn gốc sử dụng đất ngày 20/12/2016 của UBND xã G; Biên bản duyệt cấp đất ở ngày 02/4/1995 của Thường trực Đảng ủy, Thường trực HĐND và UBND xã G, năm 1995, UBND xã G giao đất cho ông Bùi Trọng H ven quốc lộ 10 chiều ngang thửa đất 9m, diện tích 300m2, thu tiền 12.290.000 đồng (40.000 đồng x 300 m2= 12.000.000 đồng + 290.000 đồng tiền thủ tục giao đất)

Theo Giấy chứng nhận QSD đất do UBND huyện V cấp cho hộ ông Bùi Văn H năm 1996: Thửa đất số 213b, tờ bản đồ số 6, chiều ngang giáp lưu không Quốc lộ 10 là 9m, diện tích 189m2, vị trí thửa đất cách chân Quốc lộ 10 là 21,0 m.

Năm 2000, khi thu hồi đất mở rộng QL 10 gia đình ông H bị thu hồi đất và được hỗ trợ 10.000 đồng/m2 và đã nhận tiền, không kH kiện gì.

Theo các quyết định thu hồi đất do UBND huyện V đã ban hành, tổng diện tích thu hồi đất từ mép nhựa QL10 hiện trạng năm 2015 đến chỉ giới GPMB năm 2015 là 84,8m2, trong đó:

- Diện tích từ mép nhựa QL10 hiện trạng năm 2015 đến chỉ giới giới giao đất có thu tiền năm 1994-1998 của xã là 45,9m2 (chỉ giới giao đất của xã cách mép nhựa 4,5m), là đất thu hồi năm 2000 và đất hành lang giao thông nằm ngoài diện tích đất xã giao có thu tiền sử dụng đất: không được bồi thường, hỗ trợ vể đất.

- Diện tích từ chỉ giới giao đất năm 1994-1998 đến chỉ giới GPMB năm 2015 là 38,9m2 nằm trong phạm vi 20m kể từ chân đường 10 trước năm 2000 trở ra. Trong đó có 34,4m2 là diện tích do xã G giao đất có thu tiền sử dụng đất (chiều ngang là 9,0m); diện tích 4,5m2 đất chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính (chiều ngang là 1,2m). Việc thu hồi đất năm 2015 chưa thu hồi vào diện tích đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Bùi Văn H ngày 12/4/1996. Tuy nhiên để đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng thực hiện Dự án, UBND huyện đã tính hỗ trợ theo nội dung Công văn 528/UBND-ĐC2 ngày 07/2/2017 của UBND thành phố.

- UBND huyện V ban hành Quyết định số 3301/QĐ-UBND ngày 29/11/2016: Thu hồi 58,1m2 đất hành lang giao thông theo Nghị định 203/HĐBT ngày 21/12/1982 và không được bồi thường về đất theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Đất đai năm 2013 do nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp và không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo khoản 2, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013.

Xét thấy, một phần diện tích đất thu hồi thuộc đất xã giao trái thẩm quyền nằm trong hành lang giao thông đã thực hiện nghĩa vụ tài chính. Sau khi kiểm tra, rà soát lại, UBND đã phê duyệt điều chỉnh loại đất tại Quyết định số 1680/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 thu hồi diện tích 23,8m2; Quyết định số 5752/QĐ-UBND ngày 31/8/2017 thu hồi bổ sung diện tích 9,5m2; Quyết định số 5973/QĐ-UBND ngày 14/9/2017 thu hồi bổ sung 20,9 m2 (trong đó: Diện tích 34,4m2 đất xã giao có thu tiền và diện tích 4,5m2 đất hộ gia đình sử dụng chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính). Như vậy, tổng diện tích thu hồi thực hiện Dự án là 84,8m2 trong đó đất xã giao có thu tiền sử dụng đất là 34,4m2 đủ điều kiện được hỗ trợ tại Công văn 528/UBND-ĐC2 ngày 07/2/2017 của UBND thành phố, đồng thời UBND huyện đã tính toán hỗ trợ bảo đảm đầy đủ quyền lợi cho gia đình ông H. Vì vậy đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của ông H.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T (vợ ông H) không có mặt theo giấy triệu tập, không gửi văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm

*Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã cơ bản chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính. Các đương sự có mặt từ khi thụ lý đến thời điểm hiện nay đều đã chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính.

- Về nội dung:

+ Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền thu hồi đất, UBND huyện V đã thực hiện đúng qui định. Các đương sự xác nhận về diện tích đất đã bị thu hồi cho Dự án lần này, nhưng yêu cầu hủy các quyết định thu hồi đất với lý do là toàn bộ diện tích đất bị thu hồi phải được bồi thường về đất.

+ Theo các tài liệu thu thập được thì UBND xã G giao đất trái thẩm quyền cho các hộ gia đình, trong đó có gia đình ông H được giao 300m2 (300 : 9 = 33,3 m) , thu tiền đất theo bảng giá đất qui định tại Quyết định số 685 QĐ/UB ngày 01/8/1994 của UBND thành phố Hải Phòng là: 40.000 đồng x 300 m2= 12.000.000 đồng + 290.000 đồng tiền thủ tục giao đất; phù hợp với lời khai của ông H về số tiền đã nộp. Gia đình ông H đã được cấp Giấy CNQSD đất ngày 12/4/1996 (thửa đất số 213b, tờ bản đồ số 6, diện tích 189m2, chiều giáp QL10 là 9 m và cách chân đường 21 m.

Theo hướng dẫn tại Công văn 528 thì đối với diện tích đất giao trái thẩm quyền nằm ngoài diện tích đã được cấp Giấy CNQSD đất, nhưng người dân đã nộp nghĩa vụ tài chính thì được hỗ trợ về đất bằng mức giá bồi thường khi thu hồi đất. Theo báo cáo tình hình cấp đất ở của xã G từ năm 1993 đến năm 1998; hộ ông H được đề nghị cấp 225 m2, ngang 9 m (thực tế ông H thừa nhận là 10 m) và như vậy chiều sâu là 225m2 : 9 = 25 m.

Cũng theo biên bản ngày 10/01/2017 của xã G lập khi tiến hành giải phóng thì nhà ông H có chiều sâu đất là 38 m. Như vậy, phần đất hộ ông H không được hỗ trợ về đất là 38 m – 25 = 13 m (tính theo chiều sâu đất).

UBND huyện V thu hồi đất của hộ ông H bị thu hồi 8,3 m chiều sâu (theo biên bản kiểm kê ngày 18/12/2015 là 8,4 m), trừ 4,5 m chiều sâu không được hỗ trợ (lẽ ra phải trừ 13 m chiều sâu) nằm ngoài chỉ giới giao đất năm 1998. Theo các phương án bồi thường đã được phê duyệt thì hộ ông H đã được bồi thường, hỗ trợ vượt quá quyền lợi được hưởng.

Do UBND huyện thu hồi và bồi thường, hỗ trợ về đất vẫn đảm bảo quyền lợi của hộ ông H nên yêu cầu hỗ trợ thêm không có cơ sở chấp nhận. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật TTHC đề nghị HĐXX tuyên bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. Căn cứ khoản 1 Điều 32 Nghị quyết 326 của Quốc hội; đề nghị miễn án phí HCST cho người khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng các bên đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người bị kiện vẫn không thay đổi các quyết định hành chính bị khởi kiện. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 140 Luật Tố tụng hành chính; Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hành chính để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các qui định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thấy:

- Về thủ tục tố tụng:

UBND huyện V đã ban hành quyết định thu hồi đất số 3301/QĐ-UBND ngày 29/11/2016 đối với 58,1 m2 đất hành lang giao thông mà hộ gia đình ông H đang tạm thời sử dụng để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình cải tạo, nâng cấp QL 10. Ngày 17/3/2017 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã thụ lý vụ án số 04/2017/TLST-HC theo yêu cầu khởi kiện của ông H và 26 hộ dân khác, đến ngày 10/7/2018 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng có quyết định tách vụ án Hành chính số 2700/2019/QĐST-HC. Như vậy vụ án của ông H còn trong thời hiệu khởi kiện, theo qui định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng thụ lý giải quyết vụ án hành chính số 78/2019/TLST-HC ngày 10 tháng 7 năm 2019 là đúng thẩm quyền qui định tại khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.

Trong quá trình Tòa án thụ lý vụ án, UBND huyện V đã ban hành Quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường bổ sung, theo đó hộ ông H được hỗ trợ đối với 34,4 m2, với số tiền 347.784.000 đồng. Tuy nhiên, ông H vẫn không đồng ý mà yêu cầu phải được bồi thường thêm phần diện tích đất 47m2 còn lại, theo giá đất được hỗ trợ theo Công văn 528/UBND-ĐC2 ngày 07/02/2017 của UBND thành phố Hải Phòng (nằm trong 24,8 m2 đất hành lang giao thông bị thu hồi tại quyết định số 3301/QĐ-UBND ngày 29/11/2016 của UBND huyện V). Căn cứ khoản 1 Điều 193 Luật tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử sẽ xem xét tính hợp pháp của toàn bộ các quyết định thu hồi đất (3301/QĐ-UBND ngày 29/11/2016, 1680/QĐ-UBND ngày 29/3/2017, 5732/QĐ-UBND ngày 31/8/2017, 5973/QĐ-UBND ngày 14/9/2017) và các quyết định phê duyệt phương án bồi thường có liên quan trong việc thu hồi 84,8 m2 nói trên trong cùng vụ án, theo như ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Thi (vợ ông H) vắng mặt nhưng theo lời khai của ông H thì bà Thi cũng đồng ý với quan điểm của ông. Trong suốt quá trình xét xử, bà Thi đều vắng mặt tại phiên tòa; căn cứ Điều 157 và Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Thi.

- Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

Theo qui định tại khoản 2 Điều 66 Luật Đất đai, UBND cấp huyện có thẩm quyền ban hành Quyết định thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân. Do đó, UBND huyện V ban hành Quyết định thu hồi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông H là phù hợp qui định của pháp luật. Về trình tự thủ tục ban hành Thông báo thu hồi đất, Quyết định thu hồi đất, kiểm kê tài sản và ban hành các Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB, phương án bổ sung bồi thường, hỗ trợ đối, thực hiện lấy ý kiến và niêm yết công khai tại địa phương đều đúng theo qui định tại các Điều 66 và Điều 69 Luật Đất đai 2013 và người khởi kiện cũng không có ý kiến hoặc kH nại về các thủ tục trên.

Tại phiên tòa, các đương sự đều xác nhận: Thửa đất số 213b có nguồn gốc do UBND xã G giao trái thẩm quyền cho hộ ông Bùi Trọng H sử dụng từ năm 1996; đã nộp nghĩa vụ tài chính là 12.290.000 đồng. Ngày 12/4/1996, UBND huyện V cấp CNQSD đất cho hộ ông H; thuộc thửa đất số 213b, tờ bản đồ số 6, chiều ngang giáp lưu không Quốc lộ 10 là 9 m, diện tích 189 m2, vị trí thửa đất cách chân Quốc lộ 10 là 21,0m, sau khi nhận giấy CNQSD đất gia đình không có kH kiện gì. Năm 2000, khi thu hồi đất mở rộng QL 10 gia đình ông H bị thu hồi một phần đất và được hỗ trợ 10.000 đồng/m2 và đã nhận tiền, không kH kiện gì. Thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình cải tạo, nâng cấp QL 10, UBND huyện V năm 2015 – 2017 đã thu hồi của hộ ông H tổng diện tích 84.8 m2 đất tại thửa số 213b, nhưng chỉ hỗ trợ đối với 34,4 m2 với số tiền 383.689.000 đồng; 4,5m2 đất gia đình tự sử dụng và 45,9 m2 đất HLGT còn lại không hỗ trợ. Căn cứ khoản 2 Điều 79 Luật tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung trên là sự thật.

Ông H cho rằng năm 1993, UBND xã G giao đất cho gia đình ông sát mép QL10, ngang 9 m kéo dài sát mương phía sau là 39 m nhưng biên bản giao đấtông H cung cấp là bản phô tô, nên không đủ căn cứ chứng minh. Theo các tài liệu thu thập được thì UBND xã G giao đất trái thẩm quyền cho các hộ gia đình, trong đó có gia đình ông H làm nhà ở là 300 m2, thu tiền đất theo bảng giá đất qui định tại Quyết định số 685 QĐ/UB ngày 01/8/1994 của UBND thành phố Hải Phòng là: 40.000 đồng x 300 m2= 12.000.000 đồng + 290.000 đồng tiền thủ tục giao đất; phù hợp với lời khai của ông H về số tiền đã nộp. Như vậy, lời khai của phía người bị kiện cho rằng năm 1993, hộ ông H được giao trái thẩm quyền 300 m2 đất là có cơ sở.

Căn cứ Bản đồ chồng ghép giải phóng mặt bằng (GPMB) năm 2000 và năm 2015 do Sở Tài nguyên và môi trường phê duyệt; bản đồ địa chính GPMB năm 2000 do Công ty tư vấn thiết kế công trình xây dựng thuộc Sở xây dựng Hải Phòng; phần diện tích bị thu hồi đều nằm trong hành lang an toàn giao thông tính từ tim đường Quốc lộ 10 cũ; phù hợp với Hồ sơ trích lục bản đồ địa chính khu vực xin giao đất làm nhà ở nhân dân năm 1993-1995. UBND xã G giao đất làm nhà ở trái thẩm quyền cho công dân tại khu đất ven Quốc lộ 10, sau đó đã được UBND huyện V chấp thuận và cấp Giấy CNQSD đất và trừ hàng lang bảo vệ đường 20m, cách tim đường là 26m theo đúng quy định tại Nghị định số 203/HĐBT ngày 21 tháng 12 năm 1982 của Hội đồng Bộ trưởng. Năm 2000 nhà nước thu hồi 45 m2 đất hộ ông H đang sử dụng để giải phóng mặt bằng QL10 (lần 1), nhưng không được bồi thường về đất (đất HLGT) mà chỉ được hỗ trợ công san lấp 10.000/ m2, ông H nhận tiền và không kH kiện, đến nay đã hết thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính.

Tại Công văn 528, UBND thành phố Hải Phòng căn cứ Điều 25 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ; đồng ý hỗ trợ khác cho 28 hộ dân có đất được giao trái thẩm quyền từ năm 1993-1998 bị thu hồi, nhưng người dân đã nộp nghĩa vụ tài chính bằng mức giá bồi thường khi thu hồi đất. Mặc dù danh sách người dân được hỗ trợ theo Công văn 528 chỉ có 28 người, nhưng trong quá trình thực hiện dự án, UBND huyện V cũng áp dụng chính sách hỗ trợ tương tự cho các hộ dân khác có đất được giao trái thẩm quyền từ năm 1993-1998 bị thu hồi nhằm là “đảm bảo công bằng” theo đúng qui định của Điều 25 Nghị định 47/2014/NĐ-CP.

Theo biên bản xác định hiện trạng ngày 10/01/2017 của xã G lập khi tiến hành giải phóng mặt bằng thì nhà ông H có chiều sâu đất giáp lưu không QL10 tới bờ mương phía sau là 38 m. Như vậy, phần đất hộ ông H không được hỗ trợ về đất là 38 m – 33.3 m = 4,7 m (tính theo chiều sâu đất). Xét hộ ông H bị thu hồi 84,8 m2 : 10,2 m chiều ngang hiện trạng = 8,31 m chiều sâu, nếu tình trừ 4,7 m chiều sâu nằm ngoài chỉ giới giao đất năm 1996 thì còn được bồi thường (8,31 m – 4,7 m) x 9 m = 32,49 m2. Nhưng theo các phương án bồi thường đã được UBND huyện V phê duyệt thì hộ ông H được nhận hỗ trợ 34,4 m2 là vượt quá quyền lợi được hưởng 1,91 m2 (tương đương số tiền 19.711.000 đồng).

Căn cứ biên bản thẩm định tại chỗ lập ngày 24/12/2019, diện tích đất còn lại của hộ ông H đang sử dụng sau thu hồi (đã xây tường bao kiên cố) hiện là 396m2 (nếu chỉ tính chiều ngang mặt đường 9 m x 41m chiều sâu đến sát bờ mương hiện trạng phía sau = 368 m2); lớn hơn diện tích do UBND xã G giao đất ban đầu 300m2. Như vậy, sau 2 lần bị thu hồi đất và được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ nhưng hộ ông H vần còn sử dụng diện tích đất lớn hơn diện tích được giao ban đầu. Mặt khác, theo giấy CNQSD đất được cấp năm 1996 thì đất của hộ ông H chỉ có diện tích 189 m2, phần còn lại là hành lang giao thông; gia đình sử dụng đến năm 2016 không có kH kiện, tranh chấp. Đối với quan điểm của người khởi kiện cho rằng giấy CNQSD đất được cấp ban đầu cho gia đình ông không ghi chỉ giới HLGT mà tính đến sát mép QL10, sau đó chính quyền mượn lại giấy và ghi trừ HLGT như trên; đất thừa là do gia đình lấn đất công phía sau, nhưng ngoài lời khai của mình, người khởi kiện không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh.

Từ những phân tích từ mục [4] đến mục [9] nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện đề nghị được bồi thường thêm đối với diện tích 47 m2 nêu trên. Đối với việc UBND huyện V bồi thường vượt quá quyền lợi của hộ gia đình ông H hàng chục triệu đồng, lẽ ra phải thu hồi lại trả cho nhà nước. Tuy nhiên, do việc quản lý đất đai tại địa phương rất lỏng lẻo, người dân lấn chiếm đất công tràn lan trong thời gian rất dài chưa được chấn chỉnh kịp thời; không có số liệu để đối cH, khảo sát. Do cần đấy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng thực hiện dự án trọng điểm quốc gia nên UBND huyện V đã báo cáo UBND thành phố tính toán hỗ trợ có lợi cho người dân. Trách nhiệm trên thuộc về chính quyền cơ sở, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào số liệu xét xử các vụ án tương tự trên địa bàn để tập hợp trao đổi với Viện kiểm sát để xem xét kiến nghị xử lý sau.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông H là người cao nên được miễn án phí hành chính sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 194 Luật Tố tụng hành chính;

Căn cứ Điều 66, Điều 69 và Điều 204 Luật Đất đai 2013; Nghị định 43/2014/NĐ-CP và Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Trọng H về việc yêu cầu hủy bỏ Quyết định thu hồi đất số 3301/QĐ-UBND ngày 29/11/2016, Quyết định thu hồi đất số 1680/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND huyện V và các Quyết định phê duyệt phương án bồi thường liên quan; cùng yêu cầu hỗ trợ, bồi thường phần đất còn lại là 47 m2 với đơn giá phù hợp tại thời điểm xét xử.

- Về án phí sơ thẩm: Ông Bùi Trọng H được miễn án phí hành chính sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ