- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "Nguyên đơn Trần Thái H với bị đơn Phan Văn V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/DS-PT Ngày 17 - 01 - 2020 V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Kiều
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Trung Trực
Bà Cao Thị Túy Giang
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Trung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Diễm Lệ - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 140/2019/TLPT-DS ngày 16 tháng 12 năm 2019 về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2019/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 135/2019/QĐ-PT ngày 23 tháng 12 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Thái H, sinh năm 1963; cư trú tại: Số 518/5, ấp 5, xã L, huyện T, tỉnh Long An (có mặt).
- Bị đơn: Ông Phan Văn V, sinh năm 1977; cư trú tại: Ấp Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1964; cư trú tại: Số 518/5, ấp 5, xã L, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Đ: Ông Trần Thái H, sinh năm 1963; cư trú tại: Số 518/5, ấp 5, xã L, huyện T, tỉnh Long An (được ủy quyền theo giấy ủy quyền ngày 15/01/2020, có mặt).
2. Bà Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1980; cư trú tại: Số 115, Khóm V, Phường 3, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Người kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Trần Thái H trình bày: Ngày 19/10/2017 âm lịch, ông có ký hợp đồng mua bán lúa nếp tươi với ông Phan Văn V với nội dung: Ông V bán cho ông 200 tấn lúa, giống lúa ST 20, giá là 6.750 đồng/kg, thời gian thực hiện hợp đồng từ ngày 15/11/2017 âm lịch đến ngày 30/11/2017 âm lịch, ông đã đặt cọc cho ông V số tiền 120.000.000 đồng. Tuy nhiên đến hạn ông V không giao lúa cho ông, ông liên lạc với ông V nhiều lần nhưng không được và ông V không trả lại tiền cọc cho ông. Nay ông yêu cầu ông V trả lại cho ông số tiền đặt cọc 120.000.000 đồng, ông rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu ông V bồi thường tiền phạt cọc 120.000.000 đồng do ông V không thực hiện đúng hợp đồng.
Bị đơn ông Phan Văn V trình bày: Ông thừa nhận ngày 19/10/2017 âm lịch ông với ông H có ký hợp đồng mua bán lúa nếp tươi như ông H trình bày. Tuy nhiên, ông không vi phạm hợp đồng mà do ông H không nhận lúa của ông dẫn đến ông mất tiền cọc trong nông dân, cụ thể vào khoảng giữa tháng 11 năm 2017 âm lịch ông đã giao cho ông H hơn 06 tấn lúa ST 20 (Trong tổng số khoảng 45 tấn lúa ông đã bao tiêu của nông dân), ông đã thuê ghe vận chuyển giao đến nơi giao kết với ông H nhưng do không có nhân công vác lúa xuống ghe của ông H nên ông H trả lại lúa, số lượng lúa còn lại ông H cho rằng không đạt chất lượng nên không nhận. Do đó ông H đã vi phạm hợp đồng và phải mất tiền cọc, nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Hoàng Thu trình bày: Bà với ông V đã ly hôn vào năm 2016, nên bà không có liên quan đến hợp đồng mua bán lúa giữa ông V với ông H, nên bà không đồng ý với ông H yêu cầu bà cùng có nghĩa vụ với ông V trả cho ông H số tiền đặt cọc 120.000.000 đồng.
Từ nội dung nêu trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2019/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu đã tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thái H đòi ông Phan Văn V và bà Nguyễn Hoàng T trả cho ông số tiền đặt cọc 120.000.000 đồng.
Chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thái H đối với ông Phan Văn V. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thái H đối với ông Phan Văn V về bồi thường tiền cọc do không thực hiện đúng hợp đồng số tiền 120.000.000 đồng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/9/2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu kháng nghị với nội dung: Sửa một phần Bản án sơ thẩm theo hướng không buộc ông Trần Thái H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên yêu cầu kháng nghị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, sửa một phần Bản án sơ thẩm số 40/2019/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu về án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của các đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, Hội đồng xét xử, xét thấy:
[3.1] Theo quy định tại điểm khoản 4 Điều 27 của Nghị quyết 326 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Trường hợp tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, một bên yêu cầu trả lại tiền, đặt cọc và phạt cọc, một bên chấp nhận trả số tiền cọc đã nhận và không chấp nhận phạt cọc, mà Tòa án chấp nhận phạt cọc thì bên không chấp nhận phạt cọc phải chịu án phí như trường hợp vụ án dân sự có giá ngạch đối với phần phạt cọc. Trường hợp Tòa án không chấp nhận phạt cọc thì bên yêu cầu phạt cọc phải chịu án phí như trường hợp vụ án dân sự có giá ngạch đối với phần phạt cọc”. Theo quy định này đương sự phải chịu án phí dân sự có giá ngạch trong trường hợp vụ án có giải quyết liên quan đến vấn đề phạt cọc.
Xét thấy, tranh chấp giữa ông Trần Thái H và ông Phan Văn V là tranh chấp hợp đồng đặt cọc. Tuy nhiên, ông H chỉ yêu cầu ông V trả lại số tiền đặt cọc 120.000.000 đồng, ông H không yêu cầu ông V bồi thường tiền phạt cọc. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H đòi ông V trả số tiền đặt cọc 120.000.000 đồng. Như vậy, ông H chỉ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng, cấp sơ thẩm buộc ông H chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 6.000.000 đồng là không đúng quy định tại điểm khoản 4 Điều 27 của Nghị quyết 326 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu; có căn cứ chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa một phần Bản án sơ thẩm số 40/2019/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu về án phí.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị được giữ nguyên và đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí dân sự phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu không phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, khoản 2 Điều 219, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 328, 430 và Điều 434 của Bộ luật dân sự; điểm d khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điều 26 và khoản 3, 4 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu. Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 40/2019/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu về án phí.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thái H đòi ông Phan Văn V và bà Nguyễn Hoàng T trả số tiền đặt cọc 120.000.000 đồng.
2. Chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thái H. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thái H đòi ông Phan Văn V bồi thường tiền cọc do không thực hiện đúng hợp đồng số tiền 120.000.000 đồng.
3. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Trần Thái H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ông Trần Thái H đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) theo biên lai thu số 0013482 ngày 04/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), ông Trần Thái H được nhận lại số tiền 5.700.000 đồng (Năm triệu, bảy trăm nghìn đồng).
Án phí phúc thẩm: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu không phải chịu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - TAND huyện V; - CCTHADS huyện V; - Đương sự; - Lưu, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Lệ Kiều |