vanban.org

Bản án 05/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 25/12/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thị L (Tên gọ i khá c : Lê Thị B ) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị L (Tên gọ i khá c: Lê Thị B) 12 tháng tù, thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y tạ m giữ , tạm giam 16/9/2019.Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành an. Bị cáo L (Tứ c B) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị L phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị L (Tên gọ i khá c : Lê Thị B ) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…; Điều 139 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------
Bản án số: 05/2019/HSST
Ngày 25/12/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhàn

Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thảo Yến và ông Nguyễn Việt Trung.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Vũ Minh Trang – Thư ký Tò a á n.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà:

Bà Phạm Thị Châm – Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 25/12/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2019/HSST ngày 02/12/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2019/QĐXXST-HS ngày 13/12/2019 đối với bị cáo:

Lê Thị L, sinh năm 1974

Tên gọ i khá c: Lê Thị B.

Nơi ĐKHKTT: Tổ 3, phườ ng T, thành phố Tam Điệp , tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Mạ nh L, sinh năm 1940 (Đã chế t) và bà Lê Thị N, sinh năm 1948 (Đã chế t); Có chồ ng là Nguyễ n Minh Th, sinh năm 1972 (Đã ly hôn năm 2005) và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/11/2010 Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn xử phạt 36 tháng tù về tộ i “Tà ng trữ trá i phép chất ma túy” . Bản án số 256/2011/HSST ngà y 16/5/2011 của Tòa án nhân dân quậ n Hoà ng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiế m đoạ t tài sản”. Bản án số 69/2017/HSST ngà y 28/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hó a, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.

Ngườ i bị hại: Anh Bù i Đì nh H, sinh năm 1970.

Đị a chỉ : Số 5, ngõ 5, tổ 3, khu Niề m Xá , phườ ng K, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắ c Ninh (Vắ ng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổ i sá ng ngà y 01/4/2001, Lê Thị L đi xe ôm từ nhà ở khu 1, phườ ng T xuố ng trung tâm thị xã Bắ c Ninh để t huê xe mô tô . Trên đườ ng đi L rủ Phạm Văn H , sinh năm 1981. Nơi ĐKHKTT: khu Suố i Hoa, phườ ng V đi cù ng. Khi đế n khu vự c cộ t cờ gầ n bế n xe Bắ c Ninh thuộ c phườ ng T, thị xã Bắ c Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Lê Thị L (Tứ c Lê Thị B) đã hỏi thuê chiế c xe mô tô nhã n hiệ u Friendly , biể n kiể m soá t 99F2-8213 của anh Bùi Đình H . L nói với anh H mục đích sử dụng xe là đi ăn cưới ở Hà Nội . Anh H đã giao xe cho L thuê. L đã nhậ n xe và đưa lại cho anh H 01 giấ y chứ ng minh nhân dân mang tên Lê Thị L để làm tin. Sau khi nhậ n xe của anh H, L giao chì a khóa xe cho H và bảo H chở L ra Hà Nộ i. Khi H và L đến khu vực phường Đ , thị xã Từ Sơn, L bảo với H rẽ vào trong làng có việc . H đi theo sự chỉ dẫ n củ a L Đế n nhà anh Nguyễ n Tiế n H , sinh năm 1966 và chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1963 ở Thọ Môn, phườ ng Đ, L nói với H là “Lừa thuê xe để mang đi cầ m cố ” và bả o H đứ ng ra nhậ n chiế c xe mô tô H đang đi là củ a H để cầm cố cho dễ . H đã đồ ng ý . Sau đó , L nói với chị Th “Có tiề n cho H vay 2.000.000 đồ ng, H sẽ để xe máy ở lại đây” . Do chị Th không có tiề n nên đã gọ i cho anh Nguyễ n Hữ u A

, sinh năm 1975, đị a chỉ : Xóm Đì nh, phườ ng Đ sang nhà chị Th nói chuyện về việc H muố n cầ m cố xe mô tô . Anh A đồ ng ý cho H vay 2.000.000 đồ ng và để lạ i chiế c xe mô tô nhã n hiệ u Friendly , biể n kiể m soá t 99F2-8213. L đã nhậ n số tiề n 2.000.000 đồ ng và nó i vớ i H “ Cứ ở đây chiề u chị về ” , sau đó L đi đâu H không rõ . H chờ L đến tối cùng ngày không thấ y L quay lạ i và không liên lạc đượ c vớ i L . Ngày 09/5/2001, Công an thị xã Bắ c Ninh đã tạ m giữ chiế c xe mô tô nó i trên củ a anh A.

Ngày 12/5/2001 Công an thị xã Bắ c Ninh đã khở i tố vụ á n, khở i tố bị can và ra lệ nh bắ t tạ m giam đố i vớ i Lê Thị L nhưng L đã trố n khỏ i đị a phương nên Công an thị xã Bắc Ninh đã ra Quyết định truy nã số 09 ngày 03/6/2001. Ngày 16/9/2019, Cơ quan Cả nh sá t điề u tra Công an thà nh phố Bắ c Ninh đã bắ t đượ c Lê Thị L.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành trưng cầu định giá đối với chiếc xe mô tô nhã n hiệ u Friendly , Biể n kiể m soá t 99F2-8213 mà L đã chiếm đoạt của anh Bùi Đình H.

Tại bản kết luận định giá số 249/KL-HĐ ngày 17/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Bắc Ninh kết luận: " Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Friendly , biể n kiể m soá t 99F2-8213, giá trị tại thời điểm năm 2001là: 6.500.000đồng"

Chiế c xe mô tô nhã n hiệ u Friendly , Biể n kiể m soá t 99F2-8213 đã đượ c Công an thị xã Bắ c Ninh trả lạ i cho chủ sở hữu là anh Bùi Đình H.

Cáo trạng số 252 /CT-VKSTPBN ngày 30/11/2019, Việ n kiể m sá t nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Lê Thị L (Tứ c Lê Thị B) về tội “Lừa đảo chiế m đoạ t tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

Bị cáo L (Tứ c B) đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Anh Bùi Đình H vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai có trong hồ sơ thể hiện anh H đã nhận lại chiếc xe mô tô nhã n hiệ u Friendly, biể n kiể m soá t 99F2-8213 bị L chiếm đoạt ngày 01/4/2019, anh H không yêu cầ u L phải bồi thường gì thêm.

Đại diện VKSND thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị L (Tứ c Lê Thị B ) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, khoản 3 Điề u 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Lê Thị L (Tứ c Lê Thị B) từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y tạ m giữ , tạm giam 16/9/2019.

Bị cáo không tham gia tranh luận gì với quan điểm của Kiểm sát viên. Bị cáo chỉ xin hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai người bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Do cần tiền để ăn tiêu, buổ i sá ng ngà y 01/4/2001, tại khu vực cột cờ thuộc phường T, thành phố Bắc Ninh, Lê Thị L (Tứ c Lê Thị B” đã đưa ra thông tin gian dố ilà thuê xe đi đám cưới ở Hà Nội để thuê chiếc xe mô tô nhã n hiệ u Friendly, biể n kiể m soá t 99F2-8213 có trị giá 6.500.000 đồ ng củ a anh Bù i Đì nh H. Sau khi thuê đượ c xe, Lý đã nhờ H cầ m cố chiế c xe cho anh Nguyễ n Hữ u A đượ c 2.000.000 đồ ng. Toàn bộ số tiền 2.000.000 đồ ng L đã mộ t mì nh chi tiêu hế t . Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận Lê Thị L (Tứ c Lê Thị B) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điề u 139 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999. Hành vi phạm tội của L xảy ra ngày 01/4/2001, trước ngày bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, vì vậy áp dụng Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14, Bộ luật hình sự được áp dụng là Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009. Điều luật áp dụng là khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 nhưng để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên áp dụng khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh và gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân trên địa bàn thành phố Bắc Ninh. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do bản tính lười lao động lại muốn có tiền chi tiêu cá nhân và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố tình phạm tội.

Khi thực hiện hành vi phạm tội này, bị cáo Lý chưa có tiền án tiền sự nhưng do bị cá o bỏ trố n khỏ i đị a phương gây khó khăn cho công tá c điề u tra . Trong thờ i gian từ 2010 đến 2017 bị cáo đã 03 lầ n bị Tòa án thị xã Từ Sơn , tỉnh Bắc Ninh; Tòa án quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội và Tòa án thành phố Thanh Hóa , tỉnh Thanh Hóa xét xử, thể hiệ n bị cá o là ngườ i có nhân thân xấ u.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn nên bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân và cân nhắc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo L (tứ c B) ra khỏi xã hội mộ t thờ i hạ n nhấ t đị nh để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tố t, sống có ích cho xã hội.

Vật chứng của vụ án và trách nhiệm dân sự: Đối với 01 chiếc xe mô tô mô tô nhãn hiệu Friendly , biể n kiể m soá t 99F2-8213 của anh Bùi Đình H mà L đã chiếm đoạt, đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu , anh H không yêu cầ u bồ i thườ ng nên không xem xé t giả i quyế t.

Trong vụ án này có anh Nguyễn Hữ u A là người cho H vay số tiề n 2.000.000 đồ ng và H để lại chiếc xe mô tô nhã n hiệ u Friendly, biể n kiể m soá t 99F2-8213 mà L đã chiế m đoạ t trướ c đó để là m tin . Khi nhậ n cầ m cố chiế c xe nà y anh A không biế t chiế c xe do L phạm tội mà có . Anh A đã chế t năm 2013. Nên không xem xé t xử lý về vấ n đề trá ch nhiệ m dân sự giữ a anh A, H và L.

Đối với Phạm Văn H, sau khi sự việ c xả y ra Công an thị xã Bắc Ninh đã triệu tậ p H để lấy lời khai , ngày 12/5/2001 ra Quyế t đị nh khở i tố bị can đố i vớ i H về tộ i “Lừ a đả o chiế m đoạ t tà i sả n” , nhưng sau đó không có thủ tụ c gì tiế p theo đố i vớ i H. Quá trình xác minh , H luôn cư trú tạ i đị a phương , xét thấy thời hiệu truy cứu trách nhiệ m hì nh sự đố i vớ i Hả i đã hế t nên ngà y 14/11/2019 Cơ quan Cả nh sá t điề u tra Công an thà nh phố Bắ c Ninh đã ra Quyế t đị nh đì nh chỉ điề u tra bị can số 02 đố i vớ i H là phù hợp.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị L (Tên gọ i khá c : Lê Thị B ) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 3 Điề u 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Điề u 329 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự ; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Xử phạt bị cáo Lê Thị L (Tên gọ i khá c: Lê Thị B) 12 tháng tù, thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y tạ m giữ , tạm giam 16/9/2019.Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành an.

Bị cáo L (Tứ c B) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án xử vắng mặt.

Cỡ chữ