- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn Th phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Văn Th phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƢƠNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2019/HSST Ngày 25 -01-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƢƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Nghiệp
2. Bà Nguyễn Thị Nghị
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đình Đắc – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2019/TLST-HS ngày 05/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2019/QĐXXST-HS ngày 11/01/2019 đối với bị cáo:
Phùng Văn Th, sinh năm 1984 tại xã ĐC, huyện YL, tỉnh VP. Nơi cư trú: Thôn ĐM, xã KM, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn T và bà Nguyễn Thị Đ; vợ: Hoàng Thị T và 03 con; tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Bị hại: Ông Phùng Văn B, sinh năm 1949.
Nơi cư trú: Thôn ĐM, xã KL, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo cáo trạng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 30/8/2018, Phùng Văn Th đang cùng anh Nguyễn Văn H hát karaoke tại nhà Th thì ông Phùng Văn B ở gần nhà Th có gọi Th ra ngoài và nhắc khuya rồi bật nhạc nhỏ cho dân làng còn ngủ. Th không nói gì mà đi vào trong nhà tiếp tục cùng anh H hát karaoke khoảng 15 phút thì anh H ra về, còn Th đi ngủ. Nhưng do bực tức về việc bị ông B nhắc, Th liền nảy sinh ý định chặt phá vườn cây táo của gia đình ông B ở cánh đồng CV, thôn ĐM, xã KL, huyện TD để trả thù. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Th xuống bếp lấy 01 con dao bằng kim loại gài vào thắt lưng và đi đôi ủng rồi đi ra ruộng táo nhà ông B. Th dùng dao chặt ngang thân 25 cây táo làm thân cây bị gãy đổ, sau đó Th tiếp tục đi sang thửa ruộng thứ 2 chặt tiếp 15 cây táo nữa. Tổng cộng Th đã chặt 40 cây táo của nhà ông B. Sau khi chặt 40 cây táo nhà ông B, Th đi về nhà cất dao, ủng và đi ngủ.
Ngày 31/8/2018, ông B phát hiện hai ruộng táo của gia đình nhà bị chặt phá nên có đơn trình báo sự việc đến Công an xã KL. Sau đó, Th đã khai nhận hành vi của mình và giao nộp tang vật cho Cơ quan điều tra.
Tại kết luận về việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 48/KL-HĐĐGTS ngày 22/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Tam Dương kết luận: Trị giá thiệt hại của 32 cây táo lê đều trong thời điểm ra hoa, kết trái, trong đó: 03 gốc đường kính 6cm; 02 gốc đường kính 6,5cm; 06 gốc đường kính 8cm; 01 gốc đường kính 8,5cm; 04 gốc đường kính 10cm; 07 gốc đường kính 11cm; 06 gốc đường kính 15,5cm; 03 gốc đường kính 20,5cm là 8.000.000 đồng. Trị giá thiệt hại của 08 cây táo vàng đều trong thời điểm ra hoa, kết trái, trong đó: 02 gốc đường kính 8,5cm; 05 gốc đường kính 11cm; 01 gốc đường kính 12cm là 2.000.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại của 32 cây táo lê và 08 cây táo vàng là 10.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKSTD ngày 05/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương đã truy tố Phùng Văn Th về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên vẫn giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b,i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1,2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Phùng Văn Th phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và bị cáo đã thỏa thuận với nhau về việc bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 đôi ủng màu xanh đã cũ và 01 con dao bằng kim loại có chuôi bằng gỗ dài khoảng 39,5cm, bản rộng khoảng 7cm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Tam Dương, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa nên có đủ cơ sở kết luận: Do bực tức về việc bị ông Phùng Văn B nhắc nhở khi hát karaoke ở nhà nên khoảng 23 giờ 30 phút ngày 30/8/2018, tại cánh đồng CV, thôn ĐM, xã KL, huyện TD, Phùng Văn Th đã dùng dao chặt 32 cây táo lê và 8 cây táo vàng đang ra hoa, kết trái của gia đình ông B. Trị giá tài sản mà Th đã làm hư hỏng của gia đình ông B là 10.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Th đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự. Điều luật quy định cụ thể như sau:
" 1. Người nào...cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Đánh giá tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do vậy, phải xử phạt bị cáo thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại. Tại phiên tòa bị hại đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất lỗi, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tài sản bị cáo làm hư hỏng đã được bồi thường và không ảnh hưởng đến vụ thu hoạch sau của bị hại, giữa bị cáo và bị hại có quan hệ họ hàng với nhau. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có đủ điều kiện để cho bị cáo cải tạo thành người công dân có ý thức chấp hành pháp luật.
Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật hình sự người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng...
Xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về phần dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tang vật: Quá trình điều tra đã xác định 01 đôi ủng màu xanh và 01 con dao bằng kim loại có chuôi bằng gỗ dài khoảng 39,5cm, bản rộng khoảng 7cm là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Văn Th phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b,i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự;
Xử phạt bị cáo Phùng Văn Th 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phùng Văn Th cho Uỷ ban nhân dân xã KL, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về vật chứng:
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy của Phùng Văn Th: 01 đôi ủng màu xanh, đã qua sử dụng, có chữ HOA SAN và 01 con dao bằng kim loại có chuôi bằng gỗ, đã qua sử dụng, dài 39,5cm, bản rộng 7cm.
4. Về án phí:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Phùng Văn Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh; Viện kiểm sát tỉnh - Viện kiểm sát nhân dân huyện; - Sở Tư pháp; Công an huyện; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện; - Bị cáo; bị hại; - UBND xã KL; - Lưu hồ sơ, thi hành án hình sự; Văn phòng. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hoài |