vanban.org

Bản án 05/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lê Minh T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2018. Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật gói tinh thể không màu có khối lượng 0,8262gram được niêm phong, có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra (ký hiệu 30/19 Nhà Bè); 01 túi nylon màu đen; 01 biển số xe 54K4-9308. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ MINH T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý (điều 195 Bộ luật hình s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHÀ BÈ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2019/HSST
Ngày: 06 - 03 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thụ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Kim Tuyến.

2. Ông Văn Công Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa:

Ông Lê Huỳnh Thiện - Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 06 tháng 03 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2019/HSST ngày 18 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2019/HSST-QĐ ngày 20 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Minh T (Tên gọi khác: Ba Càng), sinh năm 1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 119B/66C Nguyễn Thị Tần, phường 2, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở trước khi bị bắt: như trên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Tấn T, sinh năm: 1966 và bà Huỳnh Thị Mỹ H, sinh năm: 1967; Anh, chị em ruột có 01 người sinh năm: 1988; Vợ, con : Không.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/11/2018, chuyển tạm giam từ ngày 26/11/2018 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Chí Hòa, Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19h30 ngày 19/11/2018, tổ tuần tra Công an xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè tuần tra trên tuyến đường Nguyễn Bình, khi đến trước nhà 5/9 Nguyễn Bình, ấp 1, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè thì phát hiện Lê Minh T (sinh năm 1994, HKTT: Phường 2, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh) đang điều khiển xe mô tô biển số 54K4-9308 có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện trong túi nylon màu đen, treo ở phía bên trái của bửng xe mô tô T đang điều khiển có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, T khai nhận là ma túy đá. Công an xã Nhơn Đức đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa T về trụ sở tiếp tục điều tra làm rõ.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè, T khai nhận khoảng 11h00 ngày 19/11/2018, T điều khiển xe mô tô biển số 54K4-9308 đến khu vực cầu Nhị Thiên Đường gặp người đàn ông tên T (chưa rõ nhân thân, lai lịch), mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000đ. Sau khi mua ma túy, T đã lấy số ma túy ra sử dụng 02 lần. Sau đó, T lấy số ma túy còn lại cất vào trong túi nylon màu đen, treo ở phía bên trái của bửng xe mô tô biển số 54K4-9308. Đến khoảng 19h30 cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 54K4-9308 đến trước nhà 5/9 Nguyễn Bình, ấp 1, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè thì bị Tổ tuẩn tra Công an xã Nhơn Đức kiểm tra, bắt giữ.

- Kết luận giám định số 30/KLGĐ-H ngày 27/11/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

“…Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Minh T và hình dấu Công an xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9948 gram, loại Methamphetamine.”

Tại Bản cáo trạng số 18/CT-VKS-NB ngày 13/02/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè đã truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt Lê Minh T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu, tiêu hủy tinh thể không màu có khối lượng 0,9948gram (số lượng còn lại sau giám định là 0,8262gram) được niêm phong, có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra là vật cấm lưu hành; 01 túi nylon màu đen là vật không có giá trị sử dụng.

- 01 điện thoại di động hiệu MI, màu xám, số MEID 9900011515423890, số Imei 1: 866381040477801, số Imei 2: 866381040477819 là tài sản của cá nhân bị cáo và không liên quan đến vụ án nghĩ nên trả lại cho bị cáo.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Nouvo, màu đen, mang biển số 54K4-9308, đã qua sử dụng, số khung RLCN5P1109-Y074295, số máy 5P11-074297. Qua làm việc, T khai nhận đã mua xe trên của 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực đường Phạm Văn Chiêu thuộc phường 16, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, với giá 3.000.000đ nhưng không có giấy tờ.

Qua xác minh, xe mô tô trên do anh Đoàn Quang V (sinh năm 1985, HKTT xã Cam An Bắc, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa) đứng tên chủ sở hữu. Tháng 06/2014, anh V bị mất trộm xe tại đường Tân Thới Nhất 18, phường Tân Thới Nhất, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè đã chuyển hồ sơ và xe mô tô trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận 12 để thụ lý điều tra theo thẩm quyền là có căn cứ.

- 01 biển số xe 54K4-9308 là biển số của xe mô tô hiệu Honda, do anh Phạm Đỗ Thanh G (HKTT Phường 13, quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Anh Giang đã bỏ đi khỏi nơi cư trú, không thể liên lạc được, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè đã đăng báo tìm chủ sở hữu hoặc người có liên quan đến biển số xe trên nhưng đến nay chưa tìm được. Do đây là vật không có giá trị sử dụng nghĩ nên tịch thu tiêu hủy

Đối với đối tượng tên Tuấn đã có hành vi bán ma túy cho T (do chưa xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, đồng thời cho rằng mình không bị oan và trong lời nói sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra công an huyện Nhà Bè và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố; Bị cáo cũng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của Lê Minh T: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Minh T đã thừa nhận vì nghiện ma túy nên vào khoảng 11 giờ ngày 19/11/2018 bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 54K4-9308 đến khu vực cầu Nhị Thiên Đường gặp người đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua gói ma túy đã với giá tiền 500.000đồng để sử dụng Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/11/2018 tại địa chỉ trước nhà 5/9 Nguyễn Bình, ấp 1, xã Nhơn Đức bị cáo bị tổ tuần tra Công an xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè kiểm tra và phát hiện bị cáo đang tàng trữ khối lượng ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,9948 gram, loại Methamphetamine.

Lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 19/11/2018, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Lê Minh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa và nỗi đau nhức nhối của toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm, làm suy thoái nòi giống, băng hoại đạo đức và ảnh hưởng đến phẩm giá con người. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ khả năng nhận thức được việc cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vì nhu cầu nghiện hút và xem thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an chung.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng mới có khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, để răn đe riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên: Xét tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về xử lý vật chứng:

Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 0,8262g được niêm phong, có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra là vật cấm lưu hành ; 01 túi nylon màu đen là vật không có giá trị sử dụng nên căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xét tịch thu tiêu hủy;

- 01 ĐTDĐ hiệu Oppo, màu hồng, Imei1 864212034592838, Imei2 864212034592820, đã qua sử dụng là tài sản của cá nhân bị cáo và không liên quan đến vụ án nghĩ nên hoàn trả cho bị cáo.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Nouvo, màu đen, mang biển số 54K4-9308, đã qua sử

dụng, số khung RLCN5P1109-Y074295, số máy 5P11-074297. Qua làm việc, T khai nhận đã mua xe trên của 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực đường Phạm Văn Chiêu thuộc phường 16, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, với giá 3.000.000đ nhưng không có giấy tờ.

Qua xác minh, xe mô tô trên do anh Đoàn Quang V (sinh năm 1985, HKTT xã Cam An Bắc, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa) đứng tên chủ sở hữu. Tháng 06/2014, anh Vũ bị mất trộm xe tại địa chỉ đường Tân Thới Nhất 18, phường Tân Thới Nhất, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè đã chuyển hồ sơ và xe mô tô trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận 12 để thụ lý điều tra theo thẩm quyền là đúng quy định là có căn cứ.

- 01 biển số xe 54K4-9308 là biển số của xe mô tô hiệu Honda, do anh Phạm Đỗ Thanh G (HKTT Phường 13, quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Anh Giang đã bỏ đi khỏi nơi cư trú, không thể liên lạc được, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè đã đăng báo tìm chủ sở hữu hoặc người có liên quan đến biển số xe trên nhưng đến nay chưa tìm được. Do đây là vật không có giá trị sử dụng nghĩ nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với đối tượng tên T đã có hành vi bán ma túy cho T (do chưa xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là có căn cứ.

Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Lê Minh T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2018.

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật gói tinh thể không màu có khối lượng 0,8262gram được niêm phong, có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra (ký hiệu 30/19 Nhà Bè); 01 túi nylon màu đen; 01 biển số xe 54K4-9308.

Hoàn trả cho bị cáo Lê Minh T 01 điện thoại di động hiệu MI, màu xám, số MEID 9900011515423890, số Imei 1:866381040477801, số Imei 2: 866381040477819. (Theo phiếu nhập kho vật chứng số 2019-NK021 ngày 13/02/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè).

3. Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ