- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Điều 106 Bộ luật TTHS; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LT TỈNH HÒA BÌNH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2019/HS-ST Ngày 09/5/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LT, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Lan Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Khánh.
- Ông Vũ Xuân Hải.
Thư ký phiên tòa: Ông Thái Hùng Dũng
Đại diện Viện kiểm sát huyện LT, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: ông Đàm Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 5 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân (TAND) huyện LT, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 03 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 04 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn N
- Sinh ngày: 02/06/1997 tại NQ, Ninh Bình.
- Nơi cư trú: Thôn ML, XT, NQ, Ninh Bình.
- Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo; Trình độ văn hoá: 08/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Bố đẻ: Trần Văn B, sinh năm: 1972; Mẹ đẻ: Trần Thị L, sinh năm: 1977, cùng có hộ khẩu thường trú (HKTT): Thôn ML, XT, NQ, Ninh Bình; Vợ, con: Chưa có.
Tiền sự, tiền án: Không;
Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/11/2018 đến ngày 31/01/2019, hiện đang tại ngoại tại xã XT, huyện NQ, tỉnh Ninh Bình.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Ngƣời bị hại:
- Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1992. Có mặt.
Đăng ký HKTT: LS, KD, LT, Hòa Bình.
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Văn H, sinh năm 1993. Vắng mặt.
- Anh Lưu GN1, sinh năm 1993. Vắng mặt.
Đăng ký HKTT: HĐ, KD, LT, Hòa Bình.
- Anh Phạm VH, sinh năm 1993. Có mặt.
- Anh Đào Duy K, sinh năm 1995. Có mặt.
1
Đăng ký HKTT: QT, YB, LT, Hòa Bình.
- Ông Đào Xuân Đ, sinh năm 1963. Vắng mặt.
- Chị Đào Thị T, sinh năm: 1990. Có mặt.
Đăng ký HKTT: Khu 3 thị trấn CN, LT, Hòa Bình.
- Bà Trần Thị L, sinh năm 1978. Có mặt.
Đăng ký HKTT: ML, XT, NQ, Ninh Bình.
* Ngƣời làm chứng:
- Chị Nguyễn Thùy H, sinh năm 1983. Có mặt.
Đăng ký HKTT: LS, KD, LT, Hòa Bình.
- Anh Hoàng Quốc C, sinh năm 1982. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn VT, sinh năm 1978. Vắng mặt.
- Anh Trần Anh N, sinh năm 1987. Vắng mặt.
- Chị Trần Thị Khánh L, sinh năm 1991. Vắng mặt.
Cùng đăng ký HKTT: HĐ, KD, LT, Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa - nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn N và chị Đào Thị T đều chưa có vợ, có chồng nhưng không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng và ở cùng nhà với bố đẻ chị T là ông Đào Xuân Đ tại khu 3, thị trấn CN, huyện LT, tỉnh Hòa Bình (Gần sát đầu cầu CN hướng đi Thị trấn CN – KD).
Khoảng 21h15 phút ngày 13/11/2018, Trần Văn N, chị Đào Thị T cùng với Đào Duy K (em họ chị T) và Phạm VH là bạn của Trần Văn N đi ăn ốc, uống rượu tại khu vực Ngã ba thị trấn CN, LT, Hòa Bình. Đến khoảng 22h30 phút cùng ngày thì tất cả ra về. Trần Văn N điều khiển xe mô BKS 28L1-11966 chở T về nhà; cònVH điều khiển xe mô tô BKS 28L1-10282 chở K đi về hướng xã YB.
KhiVH điều khiển xe mô tô đến chân cầu CN thuộc thôn HĐ, KD thì gặp một xe mô tô BKS 28L1- 09047 do Lưu GN1, điều khiển ngược chiều, chở phía sau là Trần Văn H và Nguyễn Minh Đ. Cả hai xe đi sát vào nhau, dẫn đến việc chửi bới, cãi vã, xô xát giữa hai bên. Sau đó, cả hai nhóm được mọi người can ngăn nên K và VH lên xe đi về hướng xã YB, còn nhóm GN1, H, Đ tiếp tục lên xe để đi sang thị trấn CN để ăn đêm.
K chởVH đến gần khu vực cầu Vang thuộc xã KD thì K dùng điện thoại của mình gọi điện cho Trần Văn N nói “Anh Trần Văn N à, em vừa bị đánh bên KD”. Nghe K nói vậy, Trần Văn N nói “Vậy quay về nhà bác Đ đi”. Nghe vậy, K điều khiển xe mô tô chởVH quay lại, khi đi tới gần đầu cầu CN thuộc địa phận khu 3, thị trấn CN, K phát hiện nhóm GN1 đang đi phía trước nên K điều khiển xe của mình đi sát vào phía sau xe do GN1 điều khiển khiến cả hai xe ngã xuống đường. Sau khi bị ngã, Trần Văn H đứng dậy tiến lại túm cổ áo K đẩy đè ra lan can thành cầu rồi dùng tay đấm nhiều lần vào mặt và người K;VH, Đ lao vào ôm ghì và đánh nhau bằng tay không. Lúc này, Trần Văn N đang đứng ở dưới sân nhà ông Đ hút thuốc, nghe thấy tiếng đổ xe và tiếng đánh nhau, qua ánh sáng đèn đường, phát
2
hiện K và VH bị đánh nên Trần Văn N chạy vào trong bếp nhà ông Đ lấy một con dao bầu, đút vào túi quần bên trái chạy lên cầu. Khi lên tới lan can thành cầu, Trần Văn N nhìn thấy K đang bị H ghì vào thành lan can cầu để đánh, Trần Văn N đi đến can ngăn thì bị H chửi và dùng chân đạp vào người khiến Trần Văn N ngã xuống đường. Do bị chửi đánh nên lúc này, Trần Văn N lấy dao trong túi quần ra và dùng tay trái cầm khua dao về phía H nhiều lần làm H bị thương ở tay trái và đầu. H bỏ chạy lên cầu về phía xã KD; GN1 đứng gần đó cũng bỏ chạy về phía thị trấn CN. Cùng lúc này, Trần Văn N nhìn thấy VH và Đ đang đánh nhau nên liền chạy tới can ngăn nhưng không được nên Trần Văn N dùng tay phải cầm dao khua nhiều lần về phía Đ; Đ bỏ chạy thì Trần Văn N cầm dao đâm với về phía lưng của Đ. Lúc này được mọi người can ngăn nên Trần Văn N đi về nhà ông Đ tắm rửa, sau đó bị Cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện LT bắt khẩn cấp về hành vi cố ý gây thương tích.
Còn Nguyễn Minh Đ sau khi bị Trần Văn N dùng dao gây thương tích tại vùng lưng, cổ, đầu, tai được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại Trung tâm y tế huyện LT và Bệnh viện Việt Đức – Hà Nội, đến ngày 27/11/2018 thì được xuất viện.
Ngày 19/11/2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện LT ra quyết định trưng cầu giám định thương tích số 01 trưng cầu giám định thương tích đối với anh Nguyễn Minh Đ do bị Trần Văn N dùng dao gây thương tích ngày 13/11/2018. Tại bàn Kết luận giám định số 245 ngày 22/11/2018 của Trung tâm giám định pháp y Sở y tế tỉnh Hòa Bình kết luận:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định: “…Vết thương vùng lưng bên trái do vật sắc nhọn tác động gây xuyên thấu khoang lồng ngực. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 06%.
Tổn thương tràn máu tràn khí màng phổi trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 05 %.
Tổn thương rách nhu mô phổi trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 10%.
Các vết thương vùng đầu, mặt cổ, tay trái do vật sắc tác động. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 09 %.
Áp dụng phương pháp cộng lùi
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 27% (Hai mươi bẩy phần trăm)”.
Vật chứng
- Thu giữ tại hiện trường gồm:
+ 01 (một) dép nhựa màu đen bên chân trái; 02 (hai) dép nhựa màu đỏ đen, một chiếc chân trái, một chiếc chân phải.
- Thu giữ trong quá trình điều tra gồm:
+ 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen, cán gỗ, có tổng chiều dài 29cm, dao loại dao bầu, có một mũi nhọn, một lưỡi sắc, lưỡi dao dài 17,2 cm, rộng 5,1 cm, cán dao bằng gỗ, hình trụ, tròn dài 11,1cm, đường kính 3,2 cm, hai đầu cán
3
dao có bọc hai khung kim loại màu trắng, dao đã qua sử dụng. Là con dao của ông Đào Xuân Đ, bị cáo Trần Văn N lấy gây án.
+ 01 (một) điện thoại Iphone 6 plus màu vàng (gold), có nhiều vết trầy xước ở cạnh bên phải, điện thoại cũ đã qua sử dụng, là điện thoại của Trần Văn N.
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, BKS 28L1-102.82, không có gương chiếu hậu, không kiểm tra bên trong, xe cũ, đã qua sử dụng, là xe của Đào Duy K, sử dụng ngày 13/11/2018.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia kiểu máy 130 màu xanh ngọc, cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong, là điện thoại của Đào Duy K;
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave An-pha màu sơn trắng, BKS 28L1-090.47, không kiểm tra bên trong, xe cũ, đã qua sử dụng, là xe do Trần Văn H sử dụng ngày 13/11/2018.
- Các vật chứng xác định không liên quan đến tội phạm; Cơ quan CSĐT đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp gồm:
+ Chiếc xe môtô Honda Wave An- pha màu sơn trắng, BKS 28L1-09047, trả lại cho chị Trần Thị Khánh L (vợ Trần Văn H).
- Viện kiểm sát nhân dân huyện LT đã trả lại cho chủ sở hữu gồm:
+ Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, BKS 28L1-102.82 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 130 trả lại cho Đào Duy K.
+ 01 (một) điện thoại Iphone 6 plus màu vàng (gold) trả lại cho Trần Văn Trần Văn N.
Sau khi gây thương tích cho anh Nguyễn Minh Đ, bị cáo Trần Văn N và gia đình đã nhiều lần đến xin lỗi và bồi thường thiệt hại cho anh Đ với tổng số tiền là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Anh Nguyễn Minh Đ và gia đình đã chấp nhận việc xin lỗi, bồi thường đồng thời có Đơn xin miễn giảm hình phạt cho bị cáo Trần Văn N.
Đối với Đào Duy K, Phạm VH, Trần Văn H, Lưu GN1 là các đối tượng tham gia việc đánh nhau tối ngày 13/11/2018, Cơ quan CSĐT – Công an huyện LT xác định: Việc các đối tượng trên mâu thuẫn dẫn đến xô xát nhưng không phải là nguyên nhân trực tiếp, có mối liên hệ với việc Trần Văn N dùng dao gây thương tích cho Nguyễn Minh Đ. Các đối tượng trên bị thương nhẹ và đều có Đơn từ chối giám định thương tích, không yêu cầu giải quyết vụ việc mình bị thương tích nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự liên quan. Việc Đào Duy K dùng điện thoại gọi cho Trần Văn Nbáo việc bị đánh, sau đó, quay lại khu vực cầu CN đánh nhau với nhóm của Đ, rồi Trần Văn N chạy lên dùng dao gây thương tích cho Đ, Cơ quan điều tra xác định K không có ý nhờ Trần Văn N đánh nhau với nhóm của Đ, việc Trần Văn N dùng dao gây thương tích cho Đ, K hoàn toàn không biết và nằm ngoài ý chí chủ quan, mong muốn của K, nên không xác định K là đồng phạm với Trần Văn N trong việc gây thương tích cho anh Đ.
Cáo trạng số: 03/CT-VKSLT ngày 11/03/2019 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện LT truy tố Trần Văn Nvề tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS). Với
4
tình tiết định khung hình phạt là: dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác dẫn đến tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11 đến 30%.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo Trần Văn Nthừa nhận hành vi Cố ý gây thương tích đúng như nội dung cáo trạng truy tố.
- Người bị hại trình bày diễn biến vụ án đúng như bản cáo trạng đã nêu; xác nhận bị cáo đã xin lỗi và tích cực bồi thường, tổng số tiền người bị hại đã nhận là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu), nay không còn có bất kỳ yêu cầu bồi thường nào nữa, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Văn N.
- Đại diện hai bên gia đình bị cáo, bị hại cũng có mặt, nhất trí về phần trách nhiệm dân sự và không có ý kiến gì thêm.
- Đại diện Viện kiểm sát trình bày bản luận tội, giữ nguyên cáo trạng đã truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
+ Áp dụng: điểm đ Khoản 2 điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 – BLHS sự xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 30 đến 36 tháng tù, cho hưởng án treo.
+ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) đề nghị HĐXX tuyên: Tịch thu, tiêu hủy (một) con dao bằng kim loại màu đen, 01 (một) dép nhựa màu đen chân trái, 02 (hai) dép nhựa màu đỏ đen, một chiếc chân trái, một chiếc chân phải thu giữ tại hiện trường vì không còn giá trị sử dụng.
+ Án phí và quyền kháng cáo áp dụng theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Trần Văn N, người bị hại Nguyễn Minh Đ, bà Lan có mặt không có ý kiến tranh luận gì với đề nghị của Viện kiểm sát; chỉ đề nghị HĐXX xem xét, áp dụng cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
. Về hành vi, Quyết định tố tụng: Cơ quan CSĐT Công an huyện LT, Điều tra viên; VKSND huyện LT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Về nội dung vụ án:
*/ Về tội danh:
Nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và qua diễn biến tranh tụng tại phiên tòa HĐXX xác định: sau khi cùng em họ và bạn đi ăn ốc về, Trần Văn N đang đứng hút thuốc ở sân thì nghe em họ là anh K gọi điện nói là bị đánh, Trần Văn N nói: quay lại đây đi. Ít phút sau đó lại nghe tiếng ẩu đả, xô sát trên cầu CN, Trần Văn N đoán là em họ đang bị đánh; do nhất thời không làm chủ được bản thân, không suy nghĩ thấu đáo, Trần Văn N đã chạy vào bếp lấy một con dao bầu chạy lên chỗ đánh nhau trên cầu. Khi lên tới nơi thấy K đang bị H (là người đi
5
cùng nhóm với người bị hại Nguyễn Minh Đ) ghì vào thành lan can cầu để đánh; can ngăn không được, Trần Văn N đã lấy con dao trong túi quần ra cầm dao khua nhiều lần về phía nhóm Đ, Đ bỏ chạy thì Trần Văn N cầm dao đâm với về phía lưng của Đ làm cho Đ bị thương vùng ngực, vùng đầu, cổ, tay trái. Kết quả giám định thương tích, áp dụng phương pháp cộng lùi, tỷ lệ tổn thương cơ thể 27% (thể hiện tại Kết luận số 245/PY-GĐTT ngày 22/11/2018 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Hòa Bình).
Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ nên cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự, nhằm giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về động cơ, mục đích thấy rằng: giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì từ trước; do trời tối, bị cáo cũng vừa ăn ốc, uống rượu, tâm lý bảo vệ em họ và bạn, bị cáo cầm dao khua nhiều lần về phía Đ nhằm đẩy lùi sự tấn công của nhóm bên Đ, không có mục đích tước đoạt sự sống của bị hại; hiện tại gia đình bị hại xác định sức khỏe của người bị hại Nguyễn Minh Đ đã ổn định, đang đi học tiếng để làm thủ tục lao động xuất khẩu ở nước ngoài.
Do vậy, Cáo trạng của VKSND huyện LT, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ Khoản 2 Điều 134 – BLHS; với tình tiết định khung như viện dẫn trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
*/ Về hình phạt: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào khác; xét tính chất vụ án và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả 150.000.000đ theo yêu cầu của người bị hại (Điểm b, Khoản 1 Điều 51 – BLHS); có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (Điểm s Khoản 1 Điều 51 – BLHS); ngoài ra, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, người bị hại đã có Đơn và tại phiên tòa vẫn tha thiết đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đồng ý với đề nghị về hình phạt của đại diện Viện kiểm sát (là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác được quy định Khoản 2 Điều 51 – BLHS); HĐXX xét thấy nên áp dụng cho bị cáo mức hình phạt tương xứng và cho bị cáo hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 – BLHS để giáo dục, cải tạo.
Việc xô sát giữa K,VH, H,GN1 bị thương nhẹ không ai phải khám, điều trị, đều có đơn từ chối giải quyết và không có bất cứ yêu cầu gì. HĐXX thấy Cơ quan CSĐT xử lý là phù hợp.
. Về trách nhiệm dân sự:
Thỏa thuận bồi thường của bị cáo, bị hại cùng gia đình hai bên là tự nguyện, không trái pháp luật, phù hợp với quy định tại Điều 48 – BLHS; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 - Bộ luật dân sự 2015 nên HĐXX chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
Các vật chứng đã xử lý là phù hợp; đối với các vật chứng hiện còn đang lưu giữ, đề nghị của đại viện Viện kiểm sát phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 47 BLHS; Khoản 1, Điểm c Khoản 2, Điểm a Khoản 3 - Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (TTHS).
6
Về án phí: bị cáo Trần Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 136 – BL TTHS và Khoản 1 Điều 22, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 – BLTTHS.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố Trần Văn Nphạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 - BLHS - xử phạt bị cáo Trần Văn N 30 (Ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn Ncho Ủy ban nhân dân xã XT, NQ, Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Trần Văn N cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 – BLHS; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 - Bộ luật dân sự 2015 xác nhận thỏa thuận của bị cáo và bị hại. Theo đó: Trần Văn Ncùng gia đình đã bồi thường cho anh Nguyễn Minh Đ toàn bộ thiệt hại về sức khỏe với số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng); anh Đ và gia đình đã nhận đủ.
3. Về vật chứng: Áp dụng Khoản 1, Điều 47 – BLHS; Khoản 1, Điểm c Khoản 2, Điểm a Khoản 3 - Điều 106 của Bộ luật TTHS;
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao kim loại và 03 (ba) chiếc dép nhựa.
(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LT, tỉnh Hòa Bình).
4. Về án phí: áp dụng Khoản 2 Điều 136 – BLTTHS và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Trần Văn N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị cáo Trần Văn N, người bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án dân tỉnh Hòa Bình để xin xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo tương tự về những nội dung trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; thời hạn kháng cáo của những người vắng mặt được tính từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án.
7
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HB; - VKSND huyện LT; - Công an huyện; - Bị cáo; Người bị hại; Người có QL.NVLQ; - Thi hành án HS; - Chi cục Thi hành án DS LT; - Sở tư pháp tỉnh HB; - UBND xã XT - NQ; -Lưu HS. 8 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Lan Hƣơng |