- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? - Căn cứ: khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. RẠCH GIÁ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------- Bản án số: 05/2019/HS-ST. Ngày: 17/01/2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguyễn Quốc Tiến.
2. Bà: Chung Kim Sang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tú– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tú – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 295/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 258/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2018 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Thành T; Sinh ngày: 14/3/2000; Tên gọi khác: T P; Nơi ĐKTT: Số 32 Nguyễn Văn S, phường Rạch S, thành phố Rạch G, tỉnh Kiên G Chỗ ở: Số 32 Nguyễn Văn S, phường Rạch S, thành phố Rạch G, tỉnh Kiên G Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T – sinh năm 1974 và bà Dương Thị Minh T – sinh năm 1977; Anh em ruột: 03 người, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2005.
* Tiền án: Ngày 24/8/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng về tội “ Trộm cắp tài sản”.
* Tiền sự: Chưa.
* Bị bắt tạm giam: Ngày 16/8/2018. Hiện đang bị tạm giam trại Nhà tạm giữ Công an thành phố Rạch Giá.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Bùi Thanh P; Sinh ngày: 05/12/1997; Tên gọi khác: C; Nơi ĐKTT: Số 43 Đinh Công T, phường Rạch S, thành phố Rạch G, tỉnh Kiên G; Chỗ ở: Số 43 Đinh Công T, phường Rạch S, thành phố Rạch G, tỉnh Kiên G; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Quan T – sinh năm 1974 và bà Thị H – sinh năm 1974; Em ruột: Bùi Thị L.
* Tiền án: Chưa.
* Tiền sự: Ngày 28/7/2017, bị Công an phường Rạch Sỏi xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đến ngày 28/8/2018 chấp hành xong, chưa được xóa tiền sự. Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa chỉ trên.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
1/. Ông Nguyễn Minh M, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Trú tại: Ấp Phước H, xã Mong Thọ B, huyện Châu T, Kiên G.
2/. Anh Trần Hoàng T, sinh năm 2001 (Có mặt)
Trú tại: 424/1/24A Trần Khánh D, phường An H, Rạch G, Kiên G
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/. Ông Vương Hải Q– Sinh năm 1986. (Vắng mặt)
Trú tại: Ấp Phước N, xã Thạnh Đông A, huyện Tân H, Kiên G.
2/. Bà Nguyễn Thị Mai H – Sinh năm 1983. (Vắng mặt)
Trú tại: Số 111 ấp Đông P, xã Thạnh Đông A, huyện Châu T, Kiên G
3/. Ông Lê Văn T – Sinh năm 1996. (Vắng mặt)
Trú tại: Số 1132/11 Nguyễn T T, P. An B, thành phố Rạch G, Kiên G.
4/. Ông Phạm Chí H – Sinh năm 1984. (Có đơn xin vắng mặt)
Trú tại: Số L1 – C8 khu dân cư Bến xe m, huyện Châu T, Kiên G
5/. Ông Nguyễn Văn T(Tý) – Sinh năm 1999. (Có mặt)
Trú tại: Số 60/8 Ngô Thời N, P. An B, thành phố Rạch G, Kiên G.
6/. Ông Lê Duy H– Sinh năm 2001. (Vắng mặt)
Trú tại: Số 81/5/9 Trương Đ, P. An B, thành phố Rạch G, Kiên G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thành T là người có tiền án về tội trộm cắp tài sản. Vào khoảng 23 giờ ngày 03/7/2018, Nguyễn Thành T rủ Bùi Thanh P đi trộm xe mô tô thì P đồng ý. Lúc này, khi cả hai đi đến trước nhà số 55, Trương Vĩnh Ký, phường Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá thì T chỉ P vị trí xe đang đậu và kêu P đứng ngoài canh đường còn T đi đến lén lút lấy trộm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mio Classico, màu trắng – nâu, biển số 68S1 – 100.05 của anh Nguyễn Minh M, (xe trên do anh M mượn của anh Vương Hải Q) đang đậu phía trước nhà nhưng vẫn gắn chìa khóa trên xe. Sau khi lấy trộm được xe mô tô, T điều khiển xe chở P về nhà T ở số 32 Nguyễn Văn Siêu, phường Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang cất giấu. Đến khoảng 03 ngày sau T gặp 01 người bạn tên Thừa (chưa xác minh tên thật và địa chỉ) ở khu vực phường Rạch Sỏi mượn 01 biển số xe wave T Quốc do anh Trương Quốc D đứng tên, nhưng đã bán sang tay không xác định người mua do chưa làm thủ tục sang tên) và đem xe trên đến nhờ Lê Duy H, Nguyễn Văn T cầm giùm (Hùng, T không biết T trộm cắp tài sản), H, T giới thiệu Nguyễn Thành T gặp anh Phạm Chí H ở L1- C8 khu dân cư bến xe mới, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang cầm xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mio Classico, màu trắng – nâu, (đã gắn biển số 68S1 – 423.07) với số tiền 3.000.000 đồng (Hùng, T, Huy không biết xe do T trộm cắp mà có), T đóng lãi trước 01 tháng cho Huy 400.000 đồng, cho Hùng 100.000 đồng còn lại 2.500.000 đồng T tiêu xài cá nhân hết và không chia cho P. Đến ngày 09/8/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra mời Nguyễn Thành T, Bùi Thanh P lên làm việc và hai bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Qua điều tra xác định trước đó vào khoảng 01 giờ 20 phút, tháng 02 năm 2018 (không xác định ngày) Nguyễn Thành T, Bùi Thanh P và M (chưa xác định tên thật và địa chỉ) đã trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave T Quốc màu đỏ (không rõ biển số) ở trước nhà số 8A Đinh Công T, phường Rạch S, thành phố Rạch G, tỉnh Kiên G. Sau đó, Mực đem xe cầm với giá 2.000.000 đồng chia nhau tiêu xài cá nhân hết. Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã thông báo truy tìm người bị hại và vật chứng trong vụ án nhưng đến nay chưa xác định được và không thu hồi được xe nên chưa xác định được giá trị xe mô tô trên.
Ngoài ra, Nguyễn Thành T còn thực hiện 01 vụ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cụ thể: Vào khoảng 21 giờ, ngày 25/5/2018, Nguyễn Thành T đi đến tiệm Game bắn cá số 979 Nguyễn T Trực, phường An Bình thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang để chơi game thì gặp Trần Hoàng T – Sinh năm 2001 cũng chơi game tại đây. Lúc này T mượn 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen, biển số 68M4 – 5635 đi ăn cơm. Sau khi ăn cơm xong T không đem xe về trả cho Thành mà tiếp tục điều khiển xe mô tô trên đến tiệm game bắn cá 555 ở đường Nguyễn T Trực, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang để chơi game. Do hết tiền chơi game nên T nảy sinh ý định cầm xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen, biển số 68M4 – 5635 của Thành cho anh Lê Văn T ở số 1132/11 Nguyễn T Trực, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang với số tiền 5.500.000 đồng (Tính không biết T dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt xe của Thành). Sau khi cầm xe được 5.500.000 đồng thì Nguyễn Thành T tiếp tục sử dụng số tiền cầm xe để chơi game thua hết tiền. Ngày 21/5/2018 T dẫn 01 người bạn tên Kiên (chưa xác định tên thật và địa chỉ) đến gặp Tính chuộc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen, biển số 68M4 – 5635 với số tiền 7.500.000 đồng, Kiên chuộc xe mô tô để sử dụng. Đến ngày 21/6/2018 anh Trần Hoàng T phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen, biển số 68M4 – 5635 của mình đậu ở khu công viên Lạc Hồng, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang nên trình báo cơ quan phường Vĩnh Lạc thu hồi xe mô tô 68M4 – 5635.
Ngày 10/8/2018 Nguyễn Thành T và Bùi Thanh P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Rạch Giá khởi tố để điều tra.
Trong quá trình điều tra xác định Nguyễn Thành T và Bùi Thành P đã cùng nhau thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản. Ngoài ra T còn thực hiện 01 vụ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật :
- 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA CLASSICO, màu trắng - nâu, biển số 68S1.100.05, số khung: RLCM23C10BY058809, số máy: 23C1058820. (bản số không thu hồi được)
- 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, màu đen, biển số 68M4 – 5635, số khung F18E-5094223, số máy 18067Y594277.
- 01 (một) biển số 68S1 – 423.07, đã nhập kho vật chứng.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 183/KL-TCKH, ngày 03/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá, kết luận: 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA CLASSICO, màu trắng - nâu, biển số 68S1.100.05, số khung: RLCM23C10BY058809, số máy: 23C1058820, đã qua sử dụng, có giá trị còn lại là 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng).
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 157/KL-TCKH, ngày 09/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá, kết luận: 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, màu đen, biển số 68M4 – 5635, số khung F18E-5094223, số máy 18067Y594277, đã qua sử dụng, có giá trị còn lại là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
Tổng cộng: 27.000.000 đồng (hai mươi bảy triệu đồng).
* Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình Sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự :
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) biển số xe mang số 68S1-423.07.
(Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 81, ngày 12/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá).
- Buộc bị cáo Nguyễn Thành T giao nộp số tiền 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm ngàn đồng) và Lê Duy H giao nộp số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) là tiền do phạm tội mà có để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
* Về xử lý vật chứng :
+ Đã trao trả cho ông Vương H Q01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA CLASSICO, màu trắng - nâu, biển số 68S1.100.05.
+ Đã trao trả cho ông Trần Hoàng T 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, màu đen, biển số 68M4 – 5635.
* Về phần dân sự: Những người bị hại ông Nguyễn Minh M, Trần Hoàng T đã được nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu gì khác nên HĐXX không xét. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vương Hải Quan, bà Nguyễn Thị Mai H, ông Lê Văn T, ông Lê Duy H, Ông Nguyễn Văn T không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với ông Phạm Chí H yêu cầu Nguyễn Thành T bồi thường 3.000.000 đồng nhưng gia đình T đã bồi thường cho ông Huy 1.500.000 đồng còn lại 1.500.000 đồng ông Huy không yêu cầu.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Thành T và bị cáo Bùi Thanh P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội làm ăn lương thiện.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Bùi Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
+ Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175, và khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thành T - mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Mức án từ 9 tháng đến 12 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đồng thời chuyển hình phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo theo bản án số 186/2017/HSST ngày 24/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang thành 09 tháng tù giam do bị cáo T đang chấp hành mà phạm tội mới.
+ Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để tuyên phạt bị cáo Bùi Thanh P - mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
- Những người bị hại ông Nguyễn Minh M, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Chí H đều vắng mặt. Nhưng trong quá trình điều tra, ông Nguyễn Minh M, ông Phạm Chí H đều xác nhận đã được bồi thường xong về phần dân sự và không có yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Thành T nảy sinh ý định đi tìm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 23 giờ, ngày 03/7/2018 Nguyễn Thành T rủ Bùi Thanh P đến địa chỉ số 55, Trương Vĩnh Ký, phường Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá lén lút lấy trộm xe 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mio Classico, màu trắng – nâu, biển số 68S1 – 100.05 của ông Nguyễn Minh M, (xe do ông M mượn của ông Vương Hải Quan) trị giá qua giám định là 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng).
Ngoài ra, khoảng 01 giờ 20 phút, tháng 02 năm 2018 (không xác định ngày) bằng thủ đoạn trên Nguyễn Thành T, Bùi Thanh P và tên Mực (không rõ nhân thân và địa chỉ) tiếp tục thực hiện 01 vụ trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Wave T Quốc màu đỏ (không rõ biển số) ở trước nhà số 8A Đinh Công T, phường Rạch S, thành phố Rạch G, tỉnh Kiên G. Sau đó cả nhóm đem xe cầm với giá 2.000.000 đồng sau đó cùng nhau tiêu xài cá nhân hết Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã thông báo truy tìm người bị hại và vật chứng trong vụ án nhưng đến nay chưa xác định được và không thu hồi được xe nên chưa xác định được giá trị xe mô tô trên.
Ngoài 02 lần thực hiện trộm cắp tài sản nói trên, vào khoảng 21 giờ , ngày 25/5/2018 Nguyễn Thành T còn lợi dụng sư tin tưởng của bị hại một mình thực hiện 01 vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, màu đen, biển số 68M4 – 5635 của anh Trần Hoàng T. Trị giá qua giám định là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thành T đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175, và khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Hành vi của Bị cáo Bùi Thanh P đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đã truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo Bùi Thanh P và Nguyễn Thành T là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và ý thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng vì mục đích vụ lợi muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ ra công sức lao động chân chính, các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện hành vi lén lút trộm cắp và chiếm đoạt tài sản của những người bị hại một cách trái pháp luật. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Thành T còn lợi dụng sự tin tưởng của bị hại thực hiện hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi phạm tội của các bị cáo với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của những người bị hại được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của những người bị hại và làm mất an ninh trật tự ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần có mức hình phạt tương xứng với từng bị cáo, để răn đe giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét tính chất, vai trò của từng bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong vụ án này bị cáo T là người giữ vai trò chính, bị cáo là người đề sướng, rủ bị cáo P và tên Mực (chưa xác định tên thật và địa chỉ) thực hiện trộm cắp tài sản; trong vụ án này bị cáo T thực hiện hành vi trộm 02 lần, chiếm đoạt các tài sản qua giám định trị giá 14.000.000 đồng, đồng thời những lần thực hiện trộm của bị cáo đều rất táo bạo và liều lĩnh. Ngoài ra bị cáo còn tự mình thực hiện 01 vụ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của bị hại qua giám định tài sản trị giá là 15.000.000 đồng. Hơn nữa tại thời điểm phạm tội bị cáo T cũng đang chấp hành hình phạt tù nhưng được hưởng án treo theo bản án số 186 /2017/HS-ST ngày 24/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá. Đối với bị cáo P, bị cáo tham gia thực hiện trộm cùng bị cáo T 02 vụ chiếm đoạt các tài sản qua giám định trị giá 14.000.000 đồng. Do vậy, mức án của bị cáo T phải cao hơn bị cáo P là phù hợp và cần thiết cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo thành những công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản trộm cắp phần nào đã được thu hồi trả lại cho những người bị hại, gia đình bị cáo T đã bồi thường khắc phục xong về phần dân sự cho những người bị hại thay 02 bị cáo.
Bị cáo T và P tự thú khai ra các lần phạm tội trước đó mà chưa bị phát hiện; người bị hại anh Trần Hoàng T có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo P đã tự nguyện nộp lại số tiền 600.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo T. Áp dụng điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo P khi lượng hình.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng:
Đối với tội “Trộm cắp tài sản” các bị cáo Nguyễn Thành T và Bùi Thanh P đều thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần. Do đó cần áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 làm tình tiết tăng nặng cho 02 bị cáo khi lượng hình.
Đối với bị cáo T, bị cáo phạm tội khi đang chấp hành hình phạt theo bản án số 186/2017/HS-ST ngày 24/7/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” mà bị cáo còn tiếp tục thực hiện tội phạm 02 lần thuộc trường hợp tái phạm, do đó áp dụng thêm tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với bị cáo P tuy không có tiền án nhưng bị cáo có nhân thân xấu vào ngày 28/7/2017, bị cáo bị Công an phường Rạch Sỏi xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đến ngày 28/8/2018 chấp hành xong, chưa được xóa tiền sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo T và bị cáo P không có nghề nghiệp; thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại ông Nguyễn Minh M, anh Trần Hoàng T đã được nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu gì khác nên HĐXX không xét. Đối với quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Chí H, ông Vương Hải Quan, bà Nguyễn Thị Mai H, ông Lê Văn T, ông Lê Duy H, ông Nguyễn Văn T, phần dân sự đã bồi thường xong không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) biển số xe mang số 68S1-423.07.
(Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 81, ngày 12/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá).
- Buộc bị cáo Nguyễn Thành T giao nộp số tiền 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm ngàn đồng) và Lê Duy H giao nộp số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) là tiền do phạm tội mà có để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. - Căn cứ: khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T mức án 15 (Mười lăm) tháng tù.
- Căn cứ: khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Bùi Thanh P - mức án 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào thụ hình.
2. - Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 175, điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T mức án 09 (Chín) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt của bị cáo Nguyễn Thành T của 02 tội trộm cắp tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và hình phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án số 186/2017/HSST ngày 24/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang về tội trộm cắp tài sản. Tổng hình phạt bị cáo Nguyễn Thành T phải chấp hành của 02 bản án: 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2018.
* Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại ông Nguyễn Minh M, anh Trần Hoàng T đã được nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu gì khác nên HĐXX không xét. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Chí H, ông Vương Hải Quan, bà Nguyễn Thị Mai H, ông Lê Văn T, ông Lê Duy H, ông Nguyễn Văn T, phần dân sự đã bồi thường xong không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
* Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thành T giao nộp số tiền 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm ngàn đồng) và buộc Lê Duy H giao nộp số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) là tiền do phạm tội mà có để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) biển số xe mang số 68S1-423.07.
(Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 81, ngày 12/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá).
- Đối với người thanh niên tên Mực (chưa rõ tên thật và địa chỉ), đã có hành vi trộm cắp tài sản cùng Nguyễn Thành T, Bùi Thanh P đề nghị cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an thành phố Rạch Giá tiếp tục điều tra làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
* Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thành T và bị cáo Bùi Thanh P, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Kiên Giang - VKSND thành Phố Rạch Giá - Cơ quan THA Dân sự TP.Rạch Giá - Công an thành Phố Rạch Giá - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang - Bị cáo - Lưu . Hội thẩm nhân dân | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Loan HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa |