- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn P phạm tội "Trộm cắp tài sản". - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Vũ Phương phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2019/HS-ST Ngày: 26-02-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hòa
- Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Viết Thanh
Bà Bùi Thị Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghi - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 26 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2019/TLST-HS, ngày 24 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2019/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn P, sinh năm 1976, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp Phú Long A, xã Phú Thành A, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 03/12, Dân tộc: Kinh, Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Re, sinh năm 1955 (chết) và bà Đường Thị Sót, sinh năm 1956; Bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con lớn nhất; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ; tạm giam: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt
Bị hại:
Lê Thị Hoàng Ngân, sinh năm 1986. Vắng mặt
Nơi cư trú: Tổ 70, khóm 4, phường 2, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn P, sinh năm 1967, cư trú: ấp Long Phú A, xã Phú Thành A, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp là đối tượng nghiện ma túy, bắt đầu sử dụng từ năm 2010, đến năm 2018 thì ngưng sử dụng và đang trong quá trình uống thuốc Methadone để cai nghiện.
Vào khoảng 10 giờ 50 phút, ngày 03/12/2018, Phước đi xe buýt từ nhà ở ấp Phú Long A, xã Phú Thành A, huyện Tam Nông đến thành phố Cao Lãnh để uống thuốc Methadone theo định kỳ, Phước xuống xe đi bộ trên vỉa hè đường Nguyễn Huệ, khi đến tiệm tạp hóa Thanh Hiển số 60, Nguyễn Huệ, tổ 15, khóm 2, phường 2, thành phố Cao Lãnh thì phát hiện xe Vision màu xám biển số 66F1-386.37 đang đậu trên vỉa hè, trong hộc chứa đồ bên trái phía trước, không có nắp đậy của xe có để 01 điện thoại di động màu hồng, trắng, đen, hiệu Iphone 6S Plus của chị Lê Thị Hoàng Ngân, sinh năm 1986, ngụ tổ 70, khóm 4, phường 2, thành phố Cao Lãnh, Phước nảy sinh ý định trộm điện thoại di động. Sau khi quan sát xung quanh không thấy ai trông coi tài sản, Phước đi lại gần xe mô tô dùng tay phải lấy trộm điện thoại di động bỏ vào túi quần tiếp tục đi đến điểm uống thuốc Methadone tại số 100, đường Nguyễn Huệ, phường 2, thành phố Cao Lãnh, uống xong Phước đi bộ đến bến xe buýt Cao Lãnh để về nhà thì bị Công an phường 2 nghi vấn mời làm việc, Phước thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp 01 điện thoại di động màu hồng, trắng, đen, hiệu Iphone 6S Plus, Model A 1687, số Imei 353301074764932.
Tại kết luận định giá số 124 ngày 06/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Lãnh, kết luận: 01 điện thoại di động màu hồng, trắng, đen, hiệu Iphone Plus, Model A1687, số Imei 35331074764932 đã qua sử dụng trị giá 5.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã trao trả cho chị Ngân điện thoại di động màu hồng, trắng, đen hiệu Iphone Plus, Model A1687, số Imei 35331074764932, chị Ngân không yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phước.
Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSND-TPCL, ngày 24/01/2019, của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Phước đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn P về tội trộm cắp tài sản.
Về tình tiết tăng nặng: Không
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn P xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Nguyễn Văn P với bản tính tham lam, nên khi thấy tài sản của người bị hại không quản lý thì bị cáo thực hiện tội phạm nhằm chiếm đoạt tài sản của người bị hại, bị cáo lén lút trộm chiếc điện thoại di động màu hồng, trắng, đen, hiệu Iphone Plus, Model A1687, số Imei 35331074764932 của chị Lê Thị Hoàng Ngân.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát xác định bị cáo Nguyễn Văn P là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 01 chiếc điện thoại di động màu hồng, trắng, đen, hiệu Iphone Plus, Model A1687, số Imei 35331074764932 của chị Ngân đã qua sử dụng trị giá 5.000.000 đồng.
Việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Văn P ra trước phiên tòa về hành vi phạm tội như đã nêu trên là có căn cứ, cũng như lời luận tội của kiểm sát viên đối với bị cáo là đúng và phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận lời luận tội của kiểm sát viên đối với bị cáo Nguyễn Văn P là đúng và hành vi của bị cáo là có tội.
Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1/ Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”
Hành vi phạm tội của bị cáo Phước đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương nơi xảy ra vụ án. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là việc làm cần thiết.
Bị cáo Nguyễn Văn P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe để lao động nuôi sống bản thân và gia đình, nhưng do bản tính tham lam, nên đã có hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Do đó, bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là cần thiết, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:
Về tình tiết tăng nặng: Không
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.
Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Viết Thanh – Bùi Thị Hoàng
Huỳnh Thanh Hòa TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ CAO LÃNH
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phố Cao Lãnh, ngày 02 tháng 7 năm 2018
TRÍCH LỤC BẢN ÁN HÌNH SỰ
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2018/HSST, ngày 30 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử đối với bị cáo có lý lịch sau:
Phạm Vũ Phương, sinh năm 1973, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Khóm Tân Thuận, thị trấn Thanh Bình, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; Chổ ở: không có chổ ở nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12, dân tộc: kinh, giới tính: nam; tôn giao: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn Tùng, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị No, sinh năm 1951; bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình; có vợ đã ly hôn; có 01 người con sống chung với mẹ; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 02/10/2017, bị Công an phường 2 xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; Tạm giữ: 29/3/2018; Tạm giam: Ngày 01/4/2018. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.
Bị hại:
Lê Minh Ngọc, sinh năm 1984.
Nơi cư trú: Số 95, Cách Mạng Tháng Tám, khóm 4, phường 2, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Vũ Phương phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Vũ Phương 07 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2018.
Về trách nhiệm dân sự:
Tài sản người bị hại đã nhận lại và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét
Về án phí:
Bị cáo Phạm Vũ Phương phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
ĐỂ THI HÀNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH
CHÁNH ÁN
| Nơi nhận: - Người chấp hành án; - VKSNDTPCL - Cơ quan THAHS-CA Đồng Tháp - Trại tạm giam nơi người phải chấp hành án đang bị tạm giam - Cơ quan THAHS-CA TPCL - Sở tư pháp tỉnh Đồng Tháp - TAND tỉnh Đồng Tháp. - Chi cục THA-DS TPCL - Lưu Hồ sơ. | Nguyễn Xuân Trà |