vanban.org

Bản án 05/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 15/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trạc Văn Ch, Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Trạc Văn Ch, Lê Văn C, bị hại công ty TNHH kim loại màu Quảng Ninh, người có quyền lợi nghĩa vụ liên chị La Thị Đ, anh Trần Đình D có mặt, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. VKSND TP Cẩm Phả; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Trạc Văn Chung, Lê Văn Cường - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trạc Văn Ch, Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2019/HS-ST
Ngày 15/01/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Bích.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Chiến

Bà Bùi Thị Kim Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đào Thế Phong- Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 168/2018/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trạc Văn Ch, tên gọi khác: không; sinh ngày 04 tháng 7 năm 1980 tại huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Thôn Hà Tràng Tây, xã Đông Hải, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 01/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trạc Văn Tám (đã chết) và bà Trần Thị Vũ, sinh năm 1947; có vợ là chị Nguyễn Thị Hà, có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/12/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 05/4/2008 thi hành xong bản án; Ngày 08/4/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/01/2015 thi hành xong bản án. Bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 09/8/2018, hiện tạm giam- có mặt.

2. Họ và tên: Lê Văn C, tên gọi khác: không; sinh ngày 15 tháng 7 năm 1980 tại huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Thôn Hà Tràng Tây, xã Đông Hải, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Kỳ (đã chết) và bà Hoàng Thị Vượng (đã chết); có vợ là chị La Thị Đông, có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 09/8/2018, hiện tạm giam- có mặt.

* Bị hại: Công ty TNHH kim loại màu Quảng Ninh. Địa chỉ trụ sở: Thôn Tân Tiến, xã Dương Huy, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Lùng Văn D- chức vụ: Quản đốc công ty TNHH kim loại màu Quảng Ninh (Theo giấy ủy quyền số 0908/UQ-KLM ngày 09/8/2018 của giám đốc công ty)- có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị La Thị Đ, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn Hà Tràng Tây, xã Đông Hải, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh- có mặt;

+ Anh Trần Đình D, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ 2, khu 11, phường Mông Dương, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh- có mặt.

*Người làm chứng:

+ Anh Lùng Văn Ch, sinh năm 1982; nơi cư trú: Xóm Khe Hồng, thôn Tân Hải, xã Dương Huy, tỉnh Quảng Ninh;

+ Ông Bàng Văn L, sinh năm 1962; nơi cư trú: Thôn Tân Tiến, xã Dương Huy, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

+ Anh Lỳ Văn S, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn Nà Thủy, xã Quảng An, huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh.

+ Ông Liêu Kim S, sinh năm 1962; nơi cư trú: Tập thể Công nhân công ty kim loại mầu Quảng Ninh.

Những người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trạc Văn Ch và Lê Văn C là công nhân phân xưởng luyện kim của Công ty trách nhiệm hữu hạn kim loại màu Quảng Ninh, làm nhiệm vụ tại lò luyện kim số 1. Hàng ngày Ch, C được anh Lỳ Văn Sàu là trưởng ca phân công cụ thể công việc liên quan đến lò luyện kim, không có công việc cố định. Sáng ngày 08/8/2018, do lò số 1 ra quặng nên Ch và C được bổ sung thêm vào ca này. Nhiệm vụ của Ch là cho hóa chất, cho quặng chưa đạt yêu cầu vào lò, nhiệm vụ của C là làm mát quặng ra lò và vận chuyển quặng chưa đạt yêu cầu về cửa lò để nung lại. Khi số quặng Antimon đầu tiên ra lò bị dính nhiều bụi bẩn, nên C đã cho số kim loại Antimon này lên xe bò đẩy đến vị trí của Ch để nung lại, rồi đi làm việc khác. Lúc này, Ch thấy vắng người nên đã nảy sinh ý định trộm cắp quặng Antimon để bán lấy tiền ăn tiêu. Ch bê 9 thỏi kim loại Atimon từ cửa lò nung đến khu vực nhà xả bột, lấy bao dứa đậy lại, rồi tiếp tục làm việc. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Ch nói cho C biết việc Ch lấy số kim loại Antimon cất giấu và rủ C tham gia cùng, C đồng ý. Cả hai bê số kim loại trên ra phía sau khu vực nhà vệ sinh, rồi dùng đá đè lên để tránh bị phát hiện. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Ch sang phòng C, nói cho C biết là Ch đã cho số quặng trên vào bao và chuyển đến giấu ở đống đá được phù bạt gần nhà thí nghiệm, rạng sáng hôm sau sẽ mang ra ngoài để đi bán thì C đồng ý. Khoảng 02 giờ ngày 09/8/2018, C lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 14N1-020.44 chở Ch đến chỗ cất giấu 02 bao kim loại, chở về nhà ăn. Sau đó Ch vác từng bao quặng ra phía sau nhà ăn gần bờ tường rào rồi lấy ghế trong nhà ăn ra đứng lên và vất 02 bao quặng qua bờ tường rào, còn C đứng ở cửa nhà ăn để cảnh giới. Sau khi vất hai bao quặng ra ngoài thì Ch trèo qua tường rào rồi vác vác từng bao quặng đi men theo bìa rừng qua cổng công ty, giấu ở bụi cây ven đường rồi quay lại gọi C ra để cùng hai bao quặng này đi giấu. Ch và C mỗi người vác một bao đi bộ ra ngoài, cách cổng công ty khoảng 200m sau đó giấu vào trong rừng và đi về nhà tập thể ngủ. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, Ch và C bắt xe khách ra ngoài Mông Dương chơi. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Ch và C thuê taxi, biển số 14P 2851 của anh Trần Đình Dũng đi đến địa điểm cất giấu quặng. Ch và C mỗi người vác một bao cho vào cốp sau xe taxi và yêu cầu anh Dũng đi về phía phường Mông Dương. Trên đường đi thì bị lực lượng bảo vệ của Công ty phát hiện, đuổi theo giữ Ch, C lại và đưa đến Đồn công an khu công nghiệp Mông Dương trình báo. Vật chứng thu giữ: 02 bao dứa, 09 thỏi kim loại Antimon có khối lượng 117 kg; thu của anh Trần Đình Dũng xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển số 14P-2851, 01 giấy phép lái xe, 01 đăng ký xe ô tô, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc, 01 giấy đăng kiểm xe ô tô; thu của Lê Văn C chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển số 14N1-020.44, giấy đăng ký xe mang tên La Thị Đông.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 65/KL-HĐĐGTS ngày 16/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cẩm Phả, kết luận: 117 kg kim loại Antimon giá định giá là 26.559.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 177/CT-VKSCP ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Trạc Văn Ch, Lê Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự; Riêng bị cáo C còn được hưởng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trạc Văn Ch từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù. Xử phạt bị cáo Lê Văn C từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố. Nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Ch, C không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo Ch về việc ngày 08/8/2018 đã trộm cắp 09 thỏi kim loại Antimon của Công ty TNHH kim loại mầu Quảng Ninh là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo C về thời gian, địa điểm, cách thức lấy và cất giấu tài sản.

Xét lời khai của bị cáo Ch, C về việc ngày 09/8/2018 trên đường vận chuyển số kim loại trên đi tiêu thụ thì bị cán bộ của công ty bắt giữ hoàn toàn phù hợp với lời khai của anh Lùng Văn Dũng, Lùng Văn Ch là người trực tiếp đuổi theo, bắt giữ Trạc Văn Ch, Lê Văn C và toàn bộ vật chứng để giao cho Đồn công an KCN Mông Dương; phù hợp với biên bản tiếp nhận người và vật chứng do Đồn công an KCN Mông Dương lập; phù hợp với đơn trình báo của công ty TNHH kim loại mầu Quảng Ninh.

Đánh giá các chứng cứ nêu trên, kết hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được cơ quan điều tra xác minh, thu thập có trong hồ sơ vụ án như: tiến hành thực nghiệm điều tra, lập biên bản khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai của các người làm chứng…, đã đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Ngày 08/8/2018, tại công ty TNHH kim loại mầu Quảng Ninh, Trạc Văn Ch và Lê Văn C có hành vi trộm cắp 117 kg quặng Antimon trị giá 26.559.000 đồng của công ty. Trên đường vận chuyển đi tiêu thụ thì bị bắt vào ngày 09/8/2018.

Hành vi nêu trên của bị cáo Ch, C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự. Hành vi đó không những đã trực tiếp xâm phạm đến đến quyền sở hữu về tài sản của công ty TNHH kim loại mầu Quảng Ninh mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh tại địa phương. Vì vậy cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm Ch.

Xét vai trò và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo trong vụ án, thấy rằng: Các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn. Ch là người nảy sinh ý định trộm cắp quặng, mang quặng đi giấu trước rồi rủ C tham gia nên giữ vai trò chính trong vụ án. Còn C tham gia hạn chế hơn với vai trò giúp sức cho Ch chuyển quặng ra ngoài, cùng Ch gọi taxi chở quặng đi bán.

Xét cả hai bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tài sản đã được thu hồi trả lại bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên Ch đã nhiều lần bị Tòa án xét xử, mặc dù đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Còn C phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị áp dụng tình tiết “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” theo điểm c khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo chỉ là công nhân, thấy công ty sơ hở trong việc quản lý tài sản nên đã nhất thời trộm cắp. Do đó không có căn cứ áp dụng tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự này như đề nghị của Viện kiểm sát.

Như vậy, bị cáo Ch có vai trò cao hơn bị cáo C nhưng lại có ít tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn C nên phải chịu mức hình phạt cao hơn C là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH kim loại màu Quảng Ninh đã nhận lại toàn bộ số quặng Antimon, nay không yêu cầu gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ số quặng Antimon cho Công ty TNHH kim loại màu Quảng Ninh nên không đề cập giải quyết.

Đối với chiếc xe ô tô Toyota Vios biển kiểm soát 14P-2851 do anh Trần Đình Dũng vận chuyển quặng đi bán. Quá trình điều tra xác định anh Dũng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có. Vì vậy cơ quan điều tra đã trả lại xe và giấy tờ xe cho anh Trần Đình Dũng nên không đề cập giải quyết.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 14N1-020.44 do C dùng để chở quặng đi giấu. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này thuộc sở hữu hợp pháp của chị La Thị Đông (vợ C). Chị Đông không biết C dùng chiếc xe trên vào việc phạm tội. Vì vậy cơ quan điều tra đã trả xe và giấy tờ xe cho chị Đông nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Trần Đình Dũng lái xe taxi Toyota Vios biển số 14P-2851 chở quặng nhưng không biết là tài sản do phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trạc Văn Ch, Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trạc Văn Ch 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 09/8/2018.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 09/8/2018.

Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc Trạc Văn Ch, Lê Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trạc Văn Ch, Lê Văn C, bị hại công ty TNHH kim loại màu Quảng Ninh, người có quyền lợi nghĩa vụ liên chị La Thị Đ, anh Trần Đình D có mặt, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ