- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 178 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 05/2019/HS-ST Ngày: 19-3-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Dũng;
Bà Ngô Thị Ngọc Hạnh.
-Thư ký phiên tòa: Bà Đào Chúc Phương - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2019, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q (Quẩn A), sinh năm 1983; Nơi cư trú: ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M và bà Lê Thị P; Tiền án, tiền sự: chưa; Nhân thân: tốt; Bị cáo đang được tại ngoại; có mặt.
Bị hại: Nguyễn Quẩn E, sinh năm 1987; Nơi cư trú: ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Kiên Giang; có mặt
Người làm chứng: Nguyễn Văn B, sinh năm 1967; Nơi cư trú: ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 18/11/2018, trong lúc uống rượu cùng bạn bè Nguyễn Văn Q nghe nói vuông tôm của Nguyễn Quẩn E (em ruột của Q) nước chảy ra ngoài nên Q điện thoại nói cho Quẩn E biết, trong lúc nói chuyện Quẩn E và Q có xảy ra cự cải. Do bực tức nên Q điều khiển võ máy đến chòi vuông của Quẩn E để nói chuyện, Q vào chòi nắm cổ áo của Quẩn E kéo ra ngoài đi qua nhà Nguyễn Văn B (là chú ruột của Q và Quẩn E) để nói chuyện nhưng Quẩn E vùng vẫy chạy được ra phía sau vuông. Lúc này, Q đi vào chòi vuông của Quẩn E lấy bật lửa (hột quẹt) đốt chòi. Sau đó, Q xuống võ máy đi về nhà, chòi vuông và tài sản trong chòi gồm xe mô tô, thức ăn tôm bị cháy hoàn toàn.Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô bị cháy hư hỏng hoàn toàn (chỉ còn lại khung xe bằng kim loại) và 01 biển kiểm soát xe mô tô cháy, không còn nhìn thấy rõ chữ và số.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 26/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Vĩnh Thuận kết luận tại thời điểm tháng 11/2018:
- 120 tấm lá xé có chiều dài 1,5 mét có giá trị 150.000 đồng;
- 100 tấm lá loại lá trầm có chiều dài 1,2 mét có giá trị 200.000 đồng;
- 10 cây bạch đàn, mỗi cây dài 1,8 mét, đường kính 6cm có giá trị 600.000 đồng;
- 04 bao thức ăn tôm, hiệu Gamma, loại 20kg/bao, chưa qua sử dụng có giá trị 2.520.000 đồng;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Blade màu đen-trắng mua vào tháng 01/2017 có giá trị còn lại là 18.450.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 21.920.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSVT ngày 30 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tô ôi “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Quẩn từ 06 đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường xong, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy các vật chứng đã thu giữ.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm.
Bị hại đã nhận số tiền bồi thường là 21.920.000đ, không yêu cầu gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Đối với việc vắng mặt của người làm chứng Nguyễn Văn B đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án, xét thấy việc vắng mặt không trở ngại đến việc giải quyết vụ án. Do đó căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt Nguyễn Văn B.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Q thừa nhận: Vào ngày 18/11/2018 do bực tức Quẩn E nên Q lấy bật lửa (hột quẹt) đốt cháy chòi vuông của Quẩn E, chòi vuông và tài sản trong chòi gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Blade màu đen-trắng và thức ăn tôm bị cháy hoàn toàn. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy với hành vi làm mất hoàn toàn giá trị tài sản của người khác; khi thực hiện hành vi bị cáo đã đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện với lỗi cố ý; tài sản bị thiệt hại có giá trị theo định giá là 21.920.000đ nên đã cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 178 quy định tội “Hủy hoại tài sản” như sau:
“1. Người nào hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc…...,thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị hại là em ruột của bị cáo nhưng chỉ vì tức giận mà bị cáo đã đốt cháy tài sản gây thiệt hại cho em mình. Tại phiên tòa, bị cáo còn khai nhận trước đó (không nhớ thời gian cụ thể) bị cáo từng đập phá ti vi của mẹ bị cáo chỉ vì lý do “mẹ xem ti vi bị cáo không ngủ được”. Qua đó cho thấy bị cáo có tính hung hăng, xem thường pháp luật, không biết yêu thương gia đình nên cần tuyên cho bị cáo mức án nghiêm để răn đe, giáo dục cho bị cáo trở thành người biết yêu thương mọi người, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Qua phân tích, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát xử bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tập trung để cơ quan chức năng cải tạo, giáo dục bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường xong, không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 xe mô tô bị cháy hư hỏng hoàn toàn (chỉ còn lại khung xe bằng kim loại) và 01 biển kiểm soát xe mô tô cháy, không còn nhìn thấy rõ chữ và số do vật chứng do không còn giá trị sử dụng.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i ,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 06 tháng tù, tính từ ngày bị cáo được đưa đi chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 xe mô tô bị cháy hư hỏng hoàn toàn (chỉ còn lại khung xe bằng kim loại) và 01 biển kiểm soát xe mô tô cháy, không còn nhìn thấy rõ chữ và số.
(Các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/01/2019).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 6; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo; bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - UBND xã B; - VKSND huyện T; - CA huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Tòa án tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - Phòng (PV27) CA tỉnh KG; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Vũ |