- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quyết C- Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quyết C phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2019/HS-ST Ngày 31-01-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn T Linh - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2019/HSST ngày 15-01-2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 05/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Quyết C, sinh ngày 18/5/2000 tại Q, T, Hải Dƣơng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn A, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị H; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng từ ngày 29-10-2018 đến nay, có mặt.
- Người bị hại:
+ Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1998;
+ Anh Trần Lê Anh Đ, sinh năm 1997;
Đều trú tại: thôn T, xã B, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng
Anh T đề nghị xét xử vắng mặt, anh Đ có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Phạm Hồng N, sinh năm 1969.
Trú tại: thôn L, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Chị Nguyễn Thị Á, sinh năm 1987.
Trú tại: thôn T, xã B, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng
2. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 2000.
Trú tại: thôn M, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
3. Anh Nguyễn Tuấn L, sinh ngày 09/9/2001.
Người đại diện: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1972 (là mẹ đẻ anh L)
Đều cƣ trú tại: thôn A, xã N, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dƣơng;
4. Anh Nguyễn Đình P, sinh năm 1993.
Trú tại: thôn M, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng;
5. Anh Nguyễn Duy H, sinh năm 1996.
Trú tại: thôn N, xã T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng;
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Quyết C và anh Hoàng Văn T đều là công nhân của Công ty giầy Continuance, trụ sở tại xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 24/9/2018, khi C đang làm việc tại tổ 1 của Công ty thì anh Hoàng Văn T ra tổ làm việc của C lấy hàng hai bên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, T có lời nói với một hai ngƣời bạn làm cùng hết giờ sẽ chặn đánh C (không nói trực tiếp với C). Khoảng 18 giờ cùng ngày là hết giờ làm việc, C ra lấy xe máy để về thấy T cùng một số ngƣời đang ngồi ở quán nƣớc gần cổng Công ty. Thấy vậy, C nghĩ T và bạn T ngồi để chặn đánh mình nên C đi ra quán của ông Phạm Hồng N ở ven đƣờng mƣợn một con dao gọt hoa quả bằng kim loại, nhãn hiệu KIWI, chiều dài 28cm, lƣỡi dao bằng kim loại màu trắng bạc dài 16cm, bản rộng 3,8cm hơi khum nhọn đầu dao, phần lƣỡi dao cong một đoạn 01cm, sau đó C quay lại khu vực cổng Công ty. Khi thấy anh T đang đứng ở quán gà rán trƣớc cửa quán cà phê V gần cổng Công ty. C cầm dao đi đến vị trí anh T đang đứng rồi bất ngờ đâm liên tiếp từ phía sau, một nhát ở vùng thắt lƣng phải, một nhát ở thành bụng trái, một nhát ở thành ngực phải, anh T chống đỡ lại thì bị C chém tiếp một nhát vào mặt trƣớc khuỷu tay phải và một nhát ở mặt trƣớc cẳng tay phải. Lúc này anh Trần Lê Anh Đ (là bạn cùng công ty với anh T), thấy anh T bị C đâm gây thƣơng tích nên vào can ngăn thì bị C dùng dao chém một nhát vào cổ tay phải, sau đó C cầm theo dao bỏ đi. Hậu quả anh Hoàng Văn T bị thƣơng, đƣợc đƣa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dƣơng từ ngày 24/9/2018 đến ngày 05/10/2018; anh Trần Lê Anh Đ bị thƣơng đƣợc điều trị tại Bệnh viện Quân y 7 Hải Dƣơng từ ngày 24/9/2018 đến ngày 10/10/2018.
Kết luận giám định pháp y số 544/2018/TgT ngày 19/10/2018 của Trung tâm pháp y Hải Phòng- Sở y tế Hải Phòng kết luận thƣơng tích đối với anh Hoàng Văn T: Bị nhiều vết thƣơng phần mềm ở thân mình và tay phải gây rách da, thƣơng một số cơ. Không tổn thƣơng nội tạng, mạch máu, thần kinh lớn, đã đƣợc phẫu thuật điều trị tạm thời ổn định tốt, hầu nhƣ không ảnh hƣởng chức năng nhƣng để lại nhiều sẹo lớn xấu, ảnh hƣởng thẩm mỹ tại các vùng bị thƣơng. Tỷ lệ phần trăm tổn thƣơng cơ thể của nạn nhân do các thƣơng tích gây nên là 18%. Các thƣơng tích trên có đặc điểm do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên.
Kết luận giám định pháp y số 545/2018/TgT ngày 19/10/2018 của Trung tâm pháp y Hải Phòng- Sở y tế Hải Phòng kết luận thƣơng tích đối với anh Trần Lê Anh Đ: Bị một vết thƣơng rách da, đứt gân vùng cẳng cổ tay phải đã đƣợc phẫu thuật nối gân, điều trị chƣa hoàn toàn ổn định, còn ảnh hƣởng chức năng vận động cẳng cổ bàn ngón tay phải. Tỷ lệ phần trăm tổn thƣơng cơ thể của sẹo vết thƣơng và vết phẫu thuật mở rộng gây nên là 6%; tỷ lệ phần trăm tổn thƣơng cơ thể của tổn thƣơng đứt gân các ngón tay còn ảnh hƣởng đến vận động các ngón tay gây nên là 4%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thƣơng cơ thể của nạn nhân do thƣơng tích gây nên là 10%. Thƣơng tích trên có đặc điểm do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên.
Tại bản Cáo trạng số: 04/CT-VKSTK ngày 15-01-2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Nguyễn Quyết C về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS).
Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quyết C phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”; xử phạt Nguyễn Quyết C từ 39 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam; Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo và gia đình anh T và anh Đ đã tự thoả thuận bồi thƣờng xong về trách nhiệm dân sự nên không phải giải quyết; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố và luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các kết quả giám định thƣơng tích cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn trong quá trình làm việc tại Công ty, nên khoảng 18 giờ, ngày 24/9/2018, tại khu vực trƣớc cửa quán cà phê V, đƣờng 391 thuộc địa phận thôn L, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, Nguyễn Quyết C đã dùng dao bằng kim loại một đầu nhọn đâm chém nhiều nhát vào ngƣời anh Hoàng Văn T, khi anh Đ vào can bị cáo lại chém một nhát vào cổ tay anh Trần Lê Anh Đ. Hậu quả anh Hoàng Văn T bị thƣơng, tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể là 18%; anh Trần Lê Anh Đ bị thƣơng, tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể là 10%. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc việc xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác là trái pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện đã cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích” tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo dùng dao nhọn bằng kim loại là “hung khí nguy hiểm” và vì những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong quá trình làm việc, nghĩ là mình sẽ bị đánh nên bị cáo đã chủ động đi mƣợn dao, đâm chém nhiều nhát gây thƣơng tích cho anh T và khi anh Đ vào can ngăn cũng bị C chém một nhát là "Có tính chất côn đồ" quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS nên bị cáo C phải chịu tình tiết định khung theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS, nhƣ quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khoẻ của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, gây ảnh hƣởng xấu đến trật tự an ninh trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong nhân dân. Do vậy, cần xem xét xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo không có tài sản và đã tác động để gia đình bị cáo bồi thƣờng, khắc phục hậu quả cho những ngƣời bị hại, những ngƣời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo gây thƣơng tích với tỷ lệ % thuộc khoản 1 Điều 134 BLHS, nhƣng do bị cáo đã bị xét xử ở khoản 2 Điều 134 BLHS nên thuộc trƣờng hợp phạm tội nhƣng gây thiệt hại không lớn và đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, bản thân bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự, vì vậy HĐXX sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa đối với loại tội phạm này.
Về trách nhiệm dân sự: Hai bên đã tự thoả thuận bồi thƣờng xong về trách nhiệm dân sự, anh T và anh Đ không đề nghị bồi thƣờng gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra việc giải quyết.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 con dao nhọn bằng kim loại mà bị cáo dùng vào việc phạm tội. Con dao trên là tài sản của ông Phạm Hồng N, ông N không đề nghị nhận lại nên tịch thu cho tiêu hủy. Việc ông D cho C mƣợn xe máy là để đi làm, ông D không biết C sử dụng xe máy đi mƣợn dao, ông N có hành vi cho C mƣợn dao nhƣng không biết mục đích bị cáo sử dụng để gây thƣơng tích cho anh T và anh Đ nên ông D và ông N không phải chịu trách nhiệm.
Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quyết C phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quyết C 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 29/10/2018.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ một con dao bằng kim loại bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 25-01-2019).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Quyết C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngƣời bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dƣơng; - Sở tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Trại tạm giam -CA tỉnh HD (02 bản để giao cho bị cáo 01 bản) - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan THA hình sự huyện Tứ Kỳ - Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát Công huyện Tứ Kỳ; - Ngƣời bị hại; - Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Văn Quân |