- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáp Lê Tấn Tr phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Tấn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2019/HS-ST Ngày 10/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Minh Đức
- Bà Cao Thị Ngọc Đạo
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Chi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2019/TLST- HS ngày 10/4/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê Tấn Tr, sinh ngày 01/02/1998; tại: Xã M, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
Nơi cư trú: Đội 1, thôn Tr1, xã M, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không ổn định; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tấn Nh và bà Nguyễn Thị T; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Hồ Bảo L, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Thôn A, xã G, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Nguyễn Văn Th, sinh ngày 02/4/2002.
Người đại diện theo pháp luật cho anh Nguyễn Văn Th: Ông Nguyễn Văn H là cha đẻ của anh Th.
Nơi cư trú: Đ 8, thôn B, xã Tịnh Đ, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2/ Chị Từ Tô Ánh Ng, sinh ngày 16/5/ 2002.
Người đại diện theo pháp luật cho chị Từ Tô Ánh Ng: Ông Từ Phúc Th1, sinh năm: 1972 và bà Tô Vinh Q là cha, mẹ đẻ của chị Ng.
Nơi cư trú: X 1, Thôn Tr, xã M, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
Anh Huỳnh Văn L1, sinh năm: 1988;
Nơi cư trú: X 3, thôn M, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lê Tấn Tr làm nhân viên phục vụ tại quán Bi da hiệu A K ở xóm 3, thôn M, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi do anh Hồ Bảo L làm chủ. Nhiệm vụ của bị cáo là thu tiền, bán nước giải khát cho khách đánh bi da. Khoảng 18 giờ ngày 18/01/2019, anh Hồ Bảo L từ quán đi về nhà và để lại tại quán 01 (một) máy tính xách tay (Laptop) hiệu LENOVO màu đen, L540, Core I5, màn hình 15.6 inch cùng với dây sạc Laptop và túi xách để đựng máy tính, lúc này tại quán chỉ có bị cáo và anh Huỳnh Văn L1 cùng sử dụng máy tính của anh L để xem phim. Khoảng 21 giờ cùng ngày anh Huỳnh Văn L1 đi ngủ, bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng máy tính mở Facebook rồi vào ứng dụng messenger nhắn tin cho Nguyễn Văn Th đang làm nhân viên tại quán game hiệu U cách quán bi da A K khoảng 100m với nội dung: “Dưới đó có xe ko cu; có xe máy ko mượn về nhà tí”. Vì quen biết với bị cáo nên Nguyễn Văn Th đồng ý và đã mượn xe mô tô biển số 76D1-237.76 của Nguyễn Lưu A, lúc này A đang chơi trò chơi điện tử tại quán mang đến cho bị cáo. Trong lúc chờ Th đến, lợi dụng lúc trong quán không còn khách, L1 đang ngủ, bị cáo Tr nảy sinh trộm cắp máy laptop của L nên lấy máy và dây sạc bỏ vào túi xách và xách đi ra cửa sau của quán. Lúc này Th mang xe đến đưa cho bị cáo rồi đi bộ về lại quán gam hiệu U còn bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 76D1-237.76 chở túi xách đựng máy tính xách tay đến nhà của Từ Tô Ánh Ng để gửi. Sau đó, bị cáo Tr quay lại quán Game U trả xe cho Th và ngủ qua đêm tại đây. Sáng ngày 19/01/2019 bị cáo Tr đến quán bi da A K làm việc, lúc này L thấy không có máy tính xách tay tại quán nên hỏi bị cáo nhưng bị cáo trả lời không biết. L báo Công an xã B và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Tịnh đến làm việc. Quá trình xác minh bị cáo Lê Tấn Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Tịnh đã tiến hành tạm giữ máy tính nêu trên tại nhà của Từ Tô Ánh Ng.
Tại bản Kết luận định giá số 18 ngày 21/01/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Sơn Tịnh kết luận: Tại thời điểm bị xâm hại 01 (một) máy tính xách tay hiệu LENOVO màu đen, L540, Core I5 - 4200M, Ram 4Gb - 64bit, Bộ nhớ 120Gb, màn hình 15.6 inch đã qua sử dụng giá trị sử dụng còn lại là 55%, trị giá 3.355.000đ (ba triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn đồng). Đối với 01 túi xách và dây sạc máy tính là L1 kiện kèm theo nên không định giá.
Hành vi của Lê Tấn Tr đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bản Cáo trạng số: 05/CT–VKSST ngày 08/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Lê Tấn Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lê Tấn Tr về tội “Trộm cắp tài sản”; xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng ren đe, giáo dục. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Về vật chứng: 01 (một) máy tính xách tay hiệu LENOVO màu đen, 01 túi xách và sạc máy tính, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Tịnh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Hồ Bảo L là đúng quy định của pháp luật.
Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bị cáo Lê Tấn Tr là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thích chơi game trên máy tính nên vào đêm ngày 18 tháng 01 năm 2019 lợi dụng lúc anh Hồ Bảo L không có mặt ở quán, bị cáo đã lén lút lấy trộm 01 (một) máy tính xách tay hiệu LENOVO màu đen, L540, Core I5 - 4200M, Ram 4Gb - 64bit, Bộ nhớ 120Gb, màn hình 15.6 inch của anh Hồ Bảo L để sử dụng vào việc chơi game. Giá trị của máy tính xách tay hiệu LENOVO, L540, Core I5 - 4200M, Ram 4Gb - 64bit, Bộ nhớ 120Gb, màn hình 15.6 inch, màu đen tại thời điểm phạm tội là 3.355.000đ (ba triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nên cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú và có nơi cư trú rõ ràng; bị hại đã nhận lại tài sản và tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục theo qui định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng ren đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, trước đây và tại phiên tòa không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) máy tính xách tay hiệu LENOVO màu đen, 01 túi xách và sạc máy tính, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Tịnh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Hồ Bảo L nhận, tại phiên tòa không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Nguyễn Văn Th và Nguyễn Lưu A là người cho bị cáo Lê Tấn Tr mượn xe mô tô biển số 76D1-237.76 vào đêm ngày 18/01/2019 nhưng Th và A hoàn toàn không biết Tr dùng xe này để làm phương tiện đi cất giấu tài sản trộm cắp nên Th, A không đồng phạm với Tr trong vụ án này, do đó không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn Th và Nguyễn Lưu A là có cơ sở.
Đối với Từ Tô Ánh Ng đã có hành vi cho Tr gửi nhờ tài sản trộm cắp, tuy nhiên Ng không biết tài sản này là do Tr trộm cắp mà có nên Ng không đồng phạm với bị cáo Tr trong vụ án này, do đó không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Từ Tô Ánh Ng là có cơ sở.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo Lê Tấn Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Tấn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Tấn Tr 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng; thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 10/5/2019).
Giao bị cáo Lê Tấn Tr cho Ủy ban nhân dân xã Minh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Buộc bị cáo Lê Tấn Tr phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND H. Sơn Tịnh; - Cơ quan điều tra Công an H. Sơn Tịnh; - Nhà tạm giữ Công an H.Sơn Tịnh; - Chi cục THADS H.Sơn Tịnh; - Bị cáo; - Bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Tuyết Nga |