vanban.org

Bản án 05/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 03/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên b bị cáo Lê Thị A (Tên gọi khác: P) phạm tội "Cƣớp giật tài sản".

X phạt: Bị cáo Lê Thị A (Tên gọi khác: P) 15 (Mư i lăm) tháng tù tổng hợp với h nh phạt 61 (Sáu mươi m t) tháng tù tại bản án s 11 2 19 HS-ST ngày 13 3 2 19 của Tòa án nhân dân thành ph Đông Hà t nh Quảng Trị buộc bị cáo Lê Thị A phải chấp hành h nh phạt chung là 76 (Bảy mươi sáu) tháng tù, th i hạn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị A phạm tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên b bị cáo Lê Thị A (Tên gọi khác: P) phạm tội "Cƣớp giật tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI LĂNG
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2019/HS-ST
Ngày 03/7/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mão

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Đức Thành

- Ông Phạm Quang

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Bùi Diệu Lương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Bát - Kiểm sát viên.

Ngày 3 tháng 7 năm 2 19 tại Hội trư ng UBND ã Hải Phú huyện Hải Lăng t nh Quảng Trị t

sơ th m công khai vụ án h nh sự thụ lý s 6 2 19 TLST-HS ngày 31 5 2 19 theo Quyết định đưa vụ án ra t

s : 6 2 19 QĐXXST-HS ngày 19 6 2 19 đ i với bị cáo:

- Lê Thị A (Tên gọi khác: P), sinh ngày 7 7 1977 tại Thừa Thiên Huế; trú tại: Thôn T, xã P huyện Đ t nh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không có; tr nh độ văn hóa: 5 12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T sinh năm 1952 và bà Tr n Thị C sinh năm 1955; tiền sự: không; tiền án: Ngày 29 1 2 18 bị Tòa án nhân dân huyện Nam Đông t nh Thừa Thiên Huế phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 139 BLHS năm 1999 (điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS năm 2 15); về nhân thân: Ngày 24 1 2 8 bị Tòa án nhân dân huyện Phong Điền t nh Thừa Thiên Huế phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 13 3 2 19 bị Tòa án nhân dân thành ph Đông Hà t nh Quảng Trị phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 7 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tổng hợp với h nh phạt 3 tháng tù tại Bản án s 2 2 18 HSST ngày 29 1 2 18 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đông t nh Thừa Thiên Huế buộc bị cáo chấp hành bị cáo hình phạt chung 61 tháng tù; bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 04/4 2 19 đến nay; có mặt.

- Bị hại:

+ Bà Đào Thị Mỹ L, sinh năm 1968; trú tại: Thôn L, xã P huyện H t nh Quảng Trị; có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Vĩnh B, sinh năm 1969; trú tại: Khu ph A phư ng B, thành ph Đ, t nh Quảng Trị; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 gi

phút ngày 04/4/2019, Lê Thị A điều khiển e mô tô biển kiểm soát 74C1- 17.52 nhãn hiệu Honda RSX màu trắng đen là e mô tô A mượn của ông Vĩnh B đi từ huyện Đ t nh Thừa Thiên Huế đến của hàng bán gạo của bà Đào Thị Mỹ L ở chợ Long Hưng Hải Phú Hải Lăng Quảng Trị để mua gạo. Lúc này A thấy bà L đang c m trên tay một điện thoại di động cảm ứng màu vàng đồng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Để tiếp cận tài sản A bảo bà L bán gạo cho gà ăn với s tiền 5 . đồng. Trong lúc bà L cân gạo A hỏi mượn điện thoại để gọi cho ngư i thân. Sau khi được bà L cho mượn điện thoại A không gọi cho ngư i thân như đã nói mà gọi vào chính s điện thoại của A đang để trong c p e mô tô kiểm soát 74C1-17.52. Để tạo th i cơ chiếm đoạt tài sản A tiếp tục bảo bà L bán thêm gạo nếp và cám với s tiền 5 . đồng mỗi loại. Lợi dụng lúc bà L đang cân cám A nhanh chóng c m điện thoại r i khỏi c a hàng rồi lên e mô tô kiểm soát 74C1- 17.52 dựng sẵn g n đó bỏ chạy theo hướng Bắc - Nam trên qu c lộ 1A. Thấy vậy bà L liền hô cho những ngư i ung quanh biết. Cùng lúc này tổ tu n tra kiểm soát của Công an huyện Hải Lăng và công an ã Hải Phú đang tu n tra th nghe tiếng tri hô nên cùng ngư i dân đuổi theo bắt được Lê Thị A.

Tại Bản kết luận định giá tài sản s 16/KL-HĐĐG ngày 08 tháng 4 năm 2 19 của Hội đồng định giá tài sản trong t tụng h nh sự huyện Hải Lăng kết luận: giá trị của 1 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng đồng s Imei 1: 3562 2 9 371521 9; Imei 2: 3562 3 9 371521 7; SN: R58K33HLG7R đã qua s dụng tại th i điểm bị chiếm đoạt là 4.41 . đồng (B n triệu b n trăm mư i ngàn đồng).

Tại bản cáo trạng s 6/CT-VKSHL ngày 31 5 2 19 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng đã truy t bị cáo Lê Thị A về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của m nh như cáo trạng đã nêu.

Ý kiến bị hại Đào Thị Mỹ L tại phiên tòa in giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo và không yêu c u bồi thư ng thiệt hại g thêm.

Tại phiên tòa kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy t và đề nghị Hội đồng t áp dụng khoản 1 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS phạt bị cáo 15 đến 18 tháng tù th i hạn tạm giữ tạm giam được trừ vào th i hạn chấp hành h nh phạt tù. Áp dụng khoản 2 Điều 56 BLHS để tổng hợp h nh phạt buộc bị cáo chấp hành h nh phạt chung. Về dân sự: Không còn yêu c u nên không em t. Về vật chứng: Các tài sản thu giữ trong vụ án đã được trả lại cho chủ sở hữu riêng 1 chiếc điện thoại di động hiệu VIVO của bị cáo Lê Thị A c n trả lại cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận g với luận tội của kiểm sát viên.

Bị cáo nói l i sau cùng in HĐXX giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng t nhận định như sau:

Về hành vi quyết định t tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Hải Lăng điều tra viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra truy t đã thực hiện đúng tr nh tự thủ tục quy định của BLTTHS. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những ngư i tham gia t tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành t tụng ngư i tiến hành t tụng. Các hành vi quyết định t tụng của cơ quan tiến hành t tụng ngư i tiến hành t tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 7 gi

phút ngày 4 4 2 19 Lê Thị A đã có hành vi giả v mua gạo nếp cám của bà Đào Thị Mỹ L để tiếp cận tạo th i cơ nhằm nhanh chóng chiếm đoạt một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng đồng của bà L có giá trị 4.41 . đồng (B n triệu b n trăm mư i ngàn đồng). Hành vi của bị cáo Lê Thị A đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 BLHS.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội đã trực tiếp âm hại quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ làm mất an ninh trật tự tại địa phương c n phải lý nghiêm minh trước pháp luật để trừng trị giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Bị cáo Lê Thị A phạm tội trong th i gian đang chấp hành bản án s 02/2018 HSST ngày 29 1 2 18 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đông t nh Thừa Thiên Huế nên phải chịu t nh tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo có nhân thân ấu: Ngày 24 1 2 8 bị Tòa án nhân dân huyện Phong Điền t nh Thừa Thiên Huế phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 13 3 2 19 bị Tòa án nhân dân thành ph Đông Hà t nh Quảng Trị phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 7 tháng tù về tội “Lừa đảo tài sản” tổng hợp với h nh phạt 3 tháng tù tại Bản án s 2 2 18 HSST ngày 29 1 2 18 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đông t nh Thừa Thiên Huế buộc bị cáo chấp hành bị cáo h nh phạt chung 61 tháng tù. Đủ cơ sở để thấy rằng bị cáo có ý thức em thư ng pháp luật c n phải phạt nghiêm khắc.

Tuy nhiên c n em t cho bị cáo v trong quá tr nh điều tra đã thành kh n khai báo ăn năn h i cải. Tại phiên tòa bị hại đã in giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo. V vậy c n cho bị cáo hưởng các t nh tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS.

Hội đồng t thấy rằng c n cách ly bị cáo ra khỏi ã hội một th i gian để giáo dục răn đe bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Phía bị hại bà Đào Thị Mỹ L và ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vĩnh B không còn yêu c u g nên không em t.

Về vật chứng: Trong quá tr nh điều tra cơ quan công an đã thu giữ và trả lại tài sản cho các chủ sở hữu gồm: 1 chiếc điện thoại Samsung của bà Đào Thị Mỹ L 1 e mô tô kiểm soát 74C1- 17.52 cho ông Vĩnh B. Riêng chiếc điện thoại di động hiệu VIVO của bị cáo Lê Thị A s dụng liên lạc hằng ngày c n trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

V các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 khoản 2 Điều 56 BLHS:

1. Tuyên b bị cáo Lê Thị A (Tên gọi khác: P) phạm tội "Cƣớp giật tài sản".

2. X phạt: Bị cáo Lê Thị A (Tên gọi khác: P) 15 (Mư i lăm) tháng tù tổng hợp với h nh phạt 61 (Sáu mươi m t) tháng tù tại bản án s 11 2 19 HS-ST ngày 13 3 2 19 của Tòa án nhân dân thành ph Đông Hà t nh Quảng Trị buộc bị cáo Lê Thị A phải chấp hành h nh phạt chung là 76 (Bảy mươi sáu) tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam 04/4/2019.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Trả lại cho bị cáo Lê Thị A 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO đã qua s dụng vỏ máy màu hồng màn h nh cảm ứng đã bị vỡ s Imei 1: 863188 38882337; s Imei 2: 863188 38882329.

(Vật chứng đang ở tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hải Lăng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2019).

Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết s 326 2 16 UBTVQH14 ngày 3 12 2 16: Bị cáo Lê Thị A phải chịu 2 . đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.

Bị cáo bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ