- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2019/HS-ST ngày 13/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xử phạt Trần Văn L về tội "Cố ý gâ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội C â th n t ch ;
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, T NH AN GIANG | |
TÒA ÁN
NHÂN DÂN H
UYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG Bản án số: 05/2019/HS-ST Ngày: 13-3-2019 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, T NH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tới. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Phước Công Ông Ngô Văn Mừng. Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lộc, Kiểm sát viên. Ngày 13 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2019/TLSTHS ngày 29 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2019, đối với bị cáo: Trần Văn L, sinh năm 1964, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp L, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo phật giáo Hòa Hảo; con ông Trần Văn H, sinh năm 1925 (đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1927; c vợ Võ Thị Đ, sinh năm 1965; c 06 ngư i con: Lớn nhất sinh năm 1985, nh nhất sinh năm 1998; tiền án: không; tiền sự: không; từ nh sống với cha m , đi h c đến lớp 5 nghỉ phụ giúp gia đình, lớn lên c vợ, sinh sống b ng nghề làm thuê; bị cáo bị cấm đi kh i nơi cư trú từ ngày 03/12/2018 đến nay; bị cáo c m t. Bị hại: Trần Thị S, sinh năm 1972; nơi cư trú: Ấp L, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (c m t). i c qu n i n h a v iên quan n v án: Phạm Văn C, sinh năm 1974; nơi cư trú: Ấp L, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (c m t). i àm chứn : Lê Thành A, sinh năm 1950; Lê Bá N, sinh năm 1961; Trần Thị C, sinh năm 1956; Trần Thị C1, sinh năm 1953; Lê Thị N1, sinh năm 1941.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu c trong h sơ vụ án và quá trình xét h i, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m t t như sau: Khoảng 10 gi ngày 04/9/2018, Trần Văn L chạy xe đạp từ nhà thuộc ấp Q, xã B đến xã A để m t lúa. Khi đến khu vực ấp Q, xã B thấy nhiều ngư i đang ch t cây còng trên phần đất mà L cho r ng của gia đình, nên L h i thì được Lê Thành A cho biết Trần Thị S (em ruột của L) đang đứng ẵm Nguyễn Thị Tư ng V, sinh ngày 20/5/2017 (con ruột của S) cách đ khoảng 20m. Do c mâu thuẫn trước đ về việc tranh chấp đất đai và di sản thừa kế, L tức giận chửi và nh t 01 đoạn gỗ còng dài 130cm, bề hoành rộng nhất 13cm, nh nhất 09cm ở gần đ chạy đến để đánh S, thì S ôm con b chạy, L đuổi theo đánh nhiều cái trúng vào đầu của S đang đội mũ bảo hiểm, vai, chân, lưng của S làm đoạn gỗ bị gãy thành nhiều khúc, L b lại hiện trư ng r i lên xe đạp chạy đi. S được gia đình đưa đến Trung tâm y tế huyện C điều trị thương tích, ngày 17/9/2018 xuất viện. S yêu cầu xử lý hình sự đối với L. Riêng bé Tư ng V, không bị thương tích. * Vật chứng thu giữ: - 01 (một) khúc gỗ dài 66cm, bề hoành rộng nhất 13cm, nh nhất 12cm; - 01 (một) khúc gỗ dài 35cm, bề hoành rộng nhất 13cm, nh nhất 11cm; - 01 (một) khúc gỗ dài 32cm, bề hoành rộng nhất 12,5cm, nh nhất 9,5cm; - 01 (một) khúc gỗ dài 25cm, bề hoành rộng nhất 13cm, nh nhất 09cm; - 01 (một) khúc gỗ dài 16cm, bề hoành rộng nhất 13cm, nh nhất 10cm. * Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 238/18/TgT ngày 19/10/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, đối với Trần Thị S: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả các thương tích gây nên là 03%. Ngày 03/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Chợ Mới khởi tố Trần Văn L, để điều tra. Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 29 tháng 01 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Trần Văn L về tội C â th n t ch theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không tranh luận với l i luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đ ng xét xử giảm nh hình phạt. * Kiểm sát viên trình bày l i luận tội: Giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Trần Văn L về tội C â th n t ch theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo 6 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách 01 (một) năm; buộc bị cáo b i thư ng cho bị hại 16.391.000 đ ng. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, ngư i bị hại và những ngư i tham gia tố tụng khác,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau: [1]. M c dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, một số ngư i làm chứng vẫn v ng m t. Tuy nhiên, h đã c l i khai trong h sơ vụ án nên việc v ng m t không gây cản trở cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đ ng xét xử vẫn tiến hành xét xử v ng m t theo quy định của pháp luật Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không c ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. L i khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với l i khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với l i khai của bị hại, ngư i c quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án và những ngư i làm chứng; phù hợp với thương tích trên cơ thể bị hại và các tài liệu chứng cứ khác được lưu trong h sơ vụ án. Bị cáo biết rõ hành vi dùng khúc gỗ gây thương tích cho ngư i khác là nguy hiểm đến sức kh e và tính mạng nhưng chỉ vì mâu thuẫn trước đ trong việc tranh chấp đất đai và di sản thừa kế với bị hại mà bị cáo đã dùng khúc gỗ đánh nhiều cái trúng vai, chân và lưng bị hại. Hành vi của bị cáo đã gây tổn thương cơ thể bị hại do tất cả các thương tích gây nên là 03 (ba) %. Bị cáo là ngư i c đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gây thương tích cho ngư i khác là xâm phạm quyền bất khả xâm phạm sức kh e của ngư i khác. Lẽ ra, khi bị cáo cho r ng bị hại cho tổ từ thiện đốn các cây trên phần đất của gia đình bị cáo mà không c sự đ ng ý của bị cáo thì bị cáo nên trình báo chính quyền địa phương để được giải quyết đúng quy định của pháp luật. Trái lại, bị cáo lại t ra hung hãn, xem thư ng tính mạng, sức kh o của ngư i khác đã cố ý dùng khúc gỗ là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng ngư i, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo là chưa tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm tr ng đối với hành vi của bị cáo. [3]. Về tính chất, mức độ nghiêm tr ng đối với hành vi của bị cáo: Sức kh e là vốn quý của mỗi cá nhân và là nền tảng để mỗi ngư i lao động, phát triển. Chính vì vậy, quyền được an toàn về sức kh e của con ngư i được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Đối với những ai xâm phạm đến sức kh e ngư i khác một cách trái pháp luật, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm kh c nhất, là hình phạt. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; đã trực tiếp xâm phạm đến sức kh e của ngư i khác được pháp luật bảo vệ; ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội. Trước đây, bị cáo đã từng gây thương tích cho bị hại nhưng bị hại không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo mà chỉ yêu cầu b i thư ng về dân sự. Bị cáo không những không sửa chữa lỗi lầm mà bị cáo lại tiếp tục t ra hung hãn, xem thư ng pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo nh m giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung về tội phạm xã hội. [4]. Về tình tiết tăng n ng, giảm nh trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã t rõ thái độ thành khẩn khai báo nhưng chưa ăn năn hối cải, không nhìn nhận lỗi lầm đối với hành vi đã thực hiện với bị hại nên không được hưởng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trư ng hợp ít nghiêm tr ng; bị cáo tự nguyện nộp 1.000.000 đ ng để b i thư ng một phần thiệt hại cho bị hại; khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không c tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đ ng xét xử c xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Bị cáo không c tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự. [5]. Về xử lý vật chứng: Các đoạn gỗ thu giữ là công cụ được bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại. Xét, tịch thu tiêu hủy. [6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo b i thư ng tiền viện phí điều trị 541.160 đ ng, tiền mất thu nhập ngày công lao động trong th i gian điều trị của bị hại 4.550.000 đ ng và của ch ng bị hại 4.550.000 đ ng, tiền tổn thất tinh thần 6.590.000 đ ng. Tổng cộng 16.391.000 đ ng. Bị cáo không đ ng ý b i thư ng theo yêu cầu của bị hại vì bị hại yêu cầu b i thư ng quá cao. Bị cáo chỉ đ ng ý b i thư ng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì số tiền mà bị hại yêu cầu bị cáo b i thư ng thấp hơn so với quy định nên Hội đ ng xét xử chấp nhận. [7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các ẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội C â th n t ch ; C n cứ i m a ho n i u i m i ho n ho n i u i u 8 Bộ u t hình s n m sửa ổi ổ sun n m 7; Xử phạt: Bị cáo Trần Văn L 06 (sáu) tháng tù; Th i hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án. C n cứ ho n i u 7 Bộ u t hình s n m sửa ổi ổ sun n m 7; i u 6 Bộ u t t t n hình s ; Tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) khúc gỗ dài 66cm, bề hoành rộng nhất 13cm, nh nhất 12cm; - 01 (một) khúc gỗ dài 35cm, bề hoành rộng nhất 13cm, nh nhất 11cm; - 01 (một) khúc gỗ dài 32cm, bề hoành rộng nhất 12,5cm, nh nhất 9,5cm; - 01 (một) khúc gỗ dài 25cm, bề hoành rộng nhất 13cm, nh nhất 09cm; - 01 (một) khúc gỗ dài 16cm, bề hoành rộng nhất 13cm, nh nhất 10cm. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/3/2019 giữa Cơ quan điều tra và Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới). V trách nhiệm dân s : C n cứ i u 8 Bộ u t hình s n m sửa ổi ổ sun n m 7; i u 9 Bộ u t dân s n m ; Buộc bị cáo Trần Văn L b i thư ng cho bị hại Trần Thị S 16.391.000 đ ng (Mư i sáu triệu ba trăm chín mươi một nghìn đ ng). Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.000.000 đ ng (Một triệu đ ng) theo Biên lai thu số 003988 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 29 tháng 01 năm 2019 để đảm bảo thi hành án. C n cứ i u i u 6 Bộ u t t t n hình s và hị qu t s 326/2016/UBTVQH của Ủ an th n v Qu c Hội qu ịnh v mức thu miễn i m nộp qu n và sử d n án ph và ệ ph Tòa án; Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đ ng (Hai trăm nghìn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm và 819.550 đ ng (Tám trăm mư i chín nghìn năm trăm năm mươi đ ng) án phí dân sự sơ thẩm. C n cứ i u i u Bộ u t t t n hình s ; Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bà Trần Thị S, ông Phạm Văn C c quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Tr n h p n án qu t ịnh c thi hành theo qu ịnh tại i u Lu t Thi hành án dân s thì n i c thi hành án dân s n i ph i thi hành án dân s c qu n thỏa thu n thi hành án qu n êu cầu thi hành án t n u ện thi hành án hoặc ị c ỡn ch thi hành án theo qu ịnh tại các i u 6 7 và 9 Lu t Thi hành án dân s ; th i hiệu thi hành án c th c hiện theo qu ịnh tại i u Lu t Thi hành án dân s .
Nơi nhận: - Viện KSND huyện (1); - Tòa án nhân dân tỉnh (1); - Viện KSND tỉnh (1); - Cơ quan điều tra huyện (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà Tạm giữ (2); - Phòng h sơ (1); - Thi hành án DS huyện (1); - Bộ phận THA Tòa án (1); - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1); - Bị cáo; - Bị hại; - Ngư i c quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án; - Lưu h sơ; - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (Đã ký tên và đ ng dấu) Nguyễn Thành Tới |