- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tái sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 05/2019/HS-ST Ngày 12-4-2019 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Th H ng Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lý Khắc Chung.
Ông Nguyễn Hoàng Tuấn.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 04/2019/HSST ngày 14 tháng 3 năm 2019 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2019,
- Đối với các bị cáo:
1. Bùi Văn H A (H), sinh năm 1987, tại An Giang. Nơi cư trú: Ấp B Thới, xã B Thủy, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc t ch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Bé Tư, sinh năm 1962 và bà Đoàn Th Mướt, sinh năm 1955; có 05 ch em, b cáo là người thứ 3; có vợ là Phan Th Cẩm, sinh năm 1989; có 01 con tên Bùi Th Bội Lan, sinh năm 2015; Tiền án; tiền sự: Chưa; b cáo tại nGại, có mặt tại phiên tòa.
2. Trần Công G, sinh ngày 06/6/1990, tại An Giang. Nơi cư trú: Ấp B Phú, xã BT, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc t ch: Việt Nam; con ông Trần Công Án, sinh năm 1944 và bà Nguyễn Th Tùng, sinh năm 1948; có 03 ch em, b cáo là người thứ 3; Tiền án; tiền sự: Chưa; b cáo tại nGại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Đỗ M Q, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ấp B Lộc, xã BC, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Trần Công M, sinh năm 1968; nơi cư trú: Ấp B Phú, xã BT, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
+ Ông Lê Tuấn T, sinh năm 1983; nơi cư trú: Ấp Mỹ Hòa, xã MHH, huyệ, tỉnh An Giang (vắng mặt).
+ Ông Phạm Quốc B (Nguyên), sinh năm 1979; nơi cư trú: Ấp Mỹ Hội, huyện CM, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng:
+ Lê Văn T1, sinh năm 1977; nơi cư trú: Ấp B Thới, xã B Thủy, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
+ Lê Bảo K (Gơ), sinh năm 1979; nơi cư trú: Ấp B M, xã B Mỹ, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Nguyễn Hữu Lợi, sinh năm 1968; nơi cư trú: Ấp B Thới, xã B Thủy, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 17/10/2018 Đỗ M Q điều khiển xe mô tô biển số 67T1 – 0184 đến nhà Nguyễn Hữu Lợi, ngụ ấp B Thới, xã BT, huyện C, tỉnh An Giang dự đám giỗ và dựng xe cách nhà Lợi 30m. Tại đám giỗ có Bùi Văn H A, sau khi dự đám giỗ xong, H A ra về phát hiện xe mô tô của Q đang dựng không có người trông coi nên nảy sinh ý đ nh lấy trộm. H A điện thoại rủ Trần Công G cùng lấy trộm, G đ ng ý. G bơi xu ng đến gần chỗ đậu xe và cùng H A khiêng xe mô tô biển số 67T1 – 0184 xuống xu ng đem cất giấu xe ở khu vực chợ Cái Đầm thuộc xã Tân Hòa, huyện PT, tỉnh An Giang. Sau đó, H A điều khiển xe vừa trộm được gửi cho Lê Bảo K (Gơ), ngụ ấp B M, xã B Mỹ. Đến ngày 18/10/2018 H A và G điều khiển xe mô tô biển số 67T1 – 0184 sang Campuchia cầm giá 8.000.000 đ ng, đánh bạc thua và tiêu xài hết. Khi phát hiện mất xe Q trình báo đến Công an xã B Thủy. Đến ngày 19/10/2018 Q sang Campuchia phát hiện xe mô tô của Q tại cửa hàng cầm đ của người đàn ông quốc t ch Campuchia nên chuộc lại với giá 9.000.000 đ ng. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C mời H A và G làm việc, cả hai thừa nhận hành vi lấy trộm xe của Q.
Lời khai của b hại Đỗ M Q: Xe mô tô biển số 67T1 – 0184 Q mua của người khác không nhớ họ tên, đ a chỉ, với giá 11.500.000 đ ng, chưa sang tên. Ngày 17/10/2018 Q điều khiển xe đến nhà Lợi dự đám giỗ. Đến 19 giờ cùng ngày Q phát hiện mất xe nên trình báo Công an xã BT. Ngày 19/10/2018 Q sang Campuchia phát hiện xe ở tiệm cầm đ nên chuộc lại với giá 9.000.000 đ ng. H A và G đã b i thường cho Q số tiền 10.000.000 đ ng. Q đã bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự, dân sự đối với H A và G.
L khai của người liên quan:
Trần Công M: M là chú ruột của G, nhà M cách nhà G khoảng 10m. M có 01 chiếc xu ng kích thước dài khoảng 05m, bề rộng khoảng 01m, thường sử dụng để đi chày cá, hàng ngày xu ng đậu ở bến sông nhà M. Vào ngày 17/10/2018 M không biết việc G lấy chiếc xu ng của M để trộm xe của người khác. G đã trả chiếc xu ng nên M không có ý kiến và không yêu cầu.
Lê Tuấn T trình bày: Vào năm 2008, ThA có mua xe mô tô biển số 67T1 – 0184 tại cửa hàng xe và đăng ký chủ sở hữu xe, lúc đó ThA còn đăng ký hộ khẩu tại ấp Hòa Hạ, xã Kiến An, huyện CM, An Giang, đến năm 2010 ThA chuyển hộ khẩu về Mỹ Hòa, xã MHH, huyện CM, tỉnh An Giang. Năm 2012 T bán xe cho Phạm Quốc B ngụ cùng xã với giá 10.000.000 đ ng. Sau đó B bán xe lại cho ai thì ThA không rõ.
Phạm Quốc B trình bày: B là bạn của ThA. Năm 2012 B mua xe của ThA với giá 10.000.000 đ ng, B sử dụng đến khoảng tháng 8 năm 2018 thì bán lại cho một người lạ mặt với giá 10.500.000 đ ng, không có làm giấy tờ mua bán.
Người làm chứng:
Lê Văn T1 trình bày: Lê Văn T1 với H A, G và Q có mối quan hệ bạn bè, quen biết. Vào ngày 17/10/2018 T1 đi đám giỗ tại nhà Lợi, có nhậu chung nhau. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, H A có mượn xe mô tô 67N7 - 5768 của T1 nói đi công chuyện, không rõ đi đâu và làm gì. Sau đó T1 có nghe Q b mất xe và có đi tìm nhưng không gặp xe nên báo Công an xã B Thủy, còn H A mượn xe đi đến khoảng 00 giờ ngày 18/10/2018 thì đem xe về trả cho T1.
Lê Bảo K (Gơ) trình bày: K, H A và G là bạn bè quen biết nhau. Gơ có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B M, xã B Mỹ, huyện C, tỉnh An Giang, nhưng làm nghề bán quán nhậu tại khu vực ấp B Phú, xã B Thủy, huyện C, tên quán là Thu Lệ. Vào đêm 17/10/2018, Gơ có cho H A và G gửi xe mô tô 67T1 - 0184 tại nhà Gơ thuộc ấp B M, xã B Mỹ, huyện C, An Giang. H A nói với Gơ là xe của ba A ta, Gơ không biết xe này là do H A trộm được mà có. Trưa ngày 18/10/2018, H A và G đến nhà Gơ lấy xe mô tô 67T1 - 0184 chạy đi, đ ng thời gửi lại nhà Gơ 01 chiếc xe mô tô khác. Đến ngày 19/10/2018, H A và G đến nhà Gơ lấy lại chiếc xe đã gửi ngày 19/10/2018.
Nguyễn Hữu L trình bày: Lợi là cha nuôi của Đỗ M Q. Ngày 17/10/2018, Q có đến nhà Lợi dự đám giỗ và b mất xe mô tô biển số 67T1-0184, loại xe Wave alpha bụng, màu đỏ đen.
Căn cứ Bản kết luận đ nh giá tài sản số: 56/KL-ĐGTS ngày 25/10/2018 của Hội đ ng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C xác đ nh: 01 xe mô tô hiệu Wave alpha bụng biển số 67T1 – 0184, màu đỏ đen, số khung: 115584, số máy: 1115640 xe 02 bánh màu đỏ, đã qua sử dụng, xe còn 85% giá tr , có giá: 11.500.000 đ ng x 85% = 9.775.000 đ ng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa b cáo, b hại không ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám đ nh nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số: 04/CT-VKS.CP ngày 13 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố Bùi Văn H A và Trần Công G về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C thực hành Q công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố hành vi của b cáo Bùi Văn H A và Trần Công G đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm hình sự: B cáo H A và b cáo G cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác đem cầm với số tiền 8.000.000 đ ng, r i tiêu xài hết, hành vi của các b cáo không có câu kết chặt chẽ, b cáo H A thấy xe của Q không có người trông coi nên nảy sinh ý đ nh trộm và rủ theo b cáo G, hành vi trộm cắp của 02 b cáo là bộc phát nhất thời, không mang tính tổ chức, đ ng phạm giản đơn. Các b cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác là xâm phạm trực tiếp đến Q sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, nên cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với hành vi của b cáo để có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Tuy nhiên, các b cáo có vai trò khác nhau:
B cáo H A là người chủ động rủ b cáo G trộm xe của A Q, b cáo H A là người trực tiếp mang xe đi cầm, nhận tiền. Do đó, b cáo H A phải ch u trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi của mình gây ra. B cáo G thực hiện hành vi trộm với vai trò giúp sức.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các b cáo: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các b cáo: Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; thuộc thành phần lao động nghèo; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã khắc phục hậu quả xong; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các b cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội đã gây ra và được b hại làm đơn bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự, dân sự. Riêng b cáo G còn có thêm tình tiết ông Quận, bà Liên (ông bà nội của b cáo) được Tặng dA hiệu Huân chương kháng chiến hạng ba.
Xét các b cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, b cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng trong thời gian tại nGại cũng như thời gian sinh sống tại đ a phương, phạm tội do ham muốn bộc phát nhất thời. Từ ngày xảy ra hành vi phạm tội đến nay luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú, không vi phạm điều cấm của luật. Xét thấy không cần thiết phải cách ly các b cáo ra khỏi xã hội.
Căn cứ vào tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề ngh : Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt b cáo H A từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng đến 02 năm; xử phạt b cáo G từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 năm đến 01 năm 06 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy đ nh tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì “Người phạm tội còn có thể b phạt tiền từ 5.000.000 đ ng đến 50.000.000 đ ng”. Xét các b cáo làm thuê không có tài sản, nên đề ngh Hội đ ng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các b cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Do các b cáo đã khắc phục hậu quả xong, b hại không yêu cầu b i thường thiệt hại nên đề ngh không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Chiếc xe biển số 67T1 – 0184 thu h i được đã trả cho b hại Q là phù hợp quy đ nh pháp luật nên đề ngh không xem xét.
Hành vi xuất cảnh trái phép sang Campuchia để đánh bạc của các b cáo H A, b cáo G là vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với hành vi đánh bạc xảy ra trên lãnh thổ Campuchia và chỉ do các b cáo khai nhận nên chưa đủ căn cứ chứng M. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý các b cáo về hành vi này là có căn cứ.
Tại phiên tòa, b cáo H A, b cáo G thừa nhận nội dung bản cáo trạng là đúng với hành vi mà b cáo thực hiện. Các b cáo biết được hành vi của mình là phạm pháp, đã ăn năn hối hận, không trA luận. L nói sau cùng các b cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin cho được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận đ nh như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Tính hợp pháp của hành vi tố tụng: Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa b cáo, b hại, người liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều tuân thủ đúng quy đ nh pháp luật.
Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng theo đúng quy đ nh, người liên quan A ThA, A B, người làm chứng A K vắng mặt, L khai của họ đã có tại giai đoạn điều tra nên không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử. Do đó, Hội đ ng xét xử vẫn tiến hành xét xử là đúng theo quy đ nh tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với người tham gia tố tụng là ông Trần Công M là người chủ sở hữu chiếc ghe b Trần Công G tự ý lấy làm phương tiện vận chuyển chiếc xe b trộm đi giấu, nên Hội đ ng xét xử xác đ nh Trần Công M là người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp quy đ nh pháp luật tại Điều 65 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Chiếc ghe đã trả lại cho ông M, ông M không yêu cầu về dân sự nên Hội đ ng xét xử không xem xét.
Về nội dung vụ án:
Về trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa b cáo H A, b cáo G khai nhận: Do muốn có tiền tiêu xài đã thực hiện hành vi trộm xe mô tô biển số 67T1 - 0184, loại xe Wave alpha bụng, màu đỏ đen của A Q, r i mang sang Campuchia cầm với giá 8.000.000 đ ng, số tiền này các b cáo đánh bạc thua và tiêu xài hết. Sau khi A Q chuộc lại chiếc xe, các b cáo đã b i thường cho A Q 10.000.000 đ ng, A Q đã làm đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự, dân sự đối với các b cáo. L khai nhận của b cáo H A, b cáo G phù hợp với L khai của b hại, người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại giai đoạn điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong h sơ vụ án.
Căn cứ kết luận của Hội đ ng đ nh giá trong tố tụng hình sự, giá tr tài sản các b cáo chiếm đoạt của A Q là 9.775.000 đ ng. Theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người nào trộm cắp tài sản của người khác tr giá từ 2.000.000 đ ng đến dưới 50.000.000 đ ng hoặc…..thì b phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm….”.
Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận b cáo H A, b cáo G phạm tội "Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy đ nh tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố b cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, các b cáo phải ch u trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đã gây ra.
Về nhân thân, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tài sản hợp pháp của công dân là một trong những đối tượng được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác đều b xử lý nghiêm M trước pháp luật.
Các b cáo trước phiên tòa đều là người đã thành niên, có đầy đủ nhận thức, có sức khỏe để lao động làm ăn chân chính nuôi sống bản thân, tạo dựng cuộc sống có ích cho gia đình và xã hội, nhưng các b cáo lười lao động, ham chơi cờ bạc, muốn có tiền nhA để tiêu xài, cờ bạc thỏa mãn nhu cầu bản thân mà không phải tốn nhiều công sức lao động, bất chấp pháp luật, biết trộm tài sản của người khác là hành vi trái pháp luật nhưng các b cáo vẫn cố ý thực hiện, hành vi của các b cáo đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của b hại, vi phạm pháp luật của Nhà nước, gây mất trật tự tr an tại đ a phương, gây hoang mang, bất ổn trong quần chúng nhân dân, tài sản chiếm đoạt có giá tr là 9.775.000 đ ng.
Đây là vụ án đ ng phạm giản đơn, các b cáo H A và G cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự câu kết chặt chẽ. Trong vụ án này các b cáo thực hiện tội phạm với tính chất, mức độ phạm tội khác nhau nên cần phải phân hóa vai trò, mức độ phạm tội và kết hợp với nhân thân của các b cáo để xử lý theo quy đ nh.
Mặc dù, cùng nhau thực hiện hành vi nhưng b cáo H A là người có vai trò chính, b cáo H A là người đề xuất, rủ b cáo G trộm xe của A Q, b cáo H A là người trực tiếp mang xe đi cầm, nhận tiền và chia cho b cáo G. Do đó, b cáo H A phải ch u trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi của mình gây ra.
B cáo G là người b b cáo H A rủ tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức. B cáo G phải ch u trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi của mình gây ra.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; thuộc thành phần lao động nghèo; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã khắc phục hậu quả xong; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các b cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội đã gây ra và được b hại bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự, dân sự. Riêng b cáo G có thêm tình tiết là ông Trần Công Quận và bà Lê Th Liên (ông bà nội của b cáo) là người có công với cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba năm 1991. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để Hội đ ng xét xử xem xét khi lượng hình.
Xét các b cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, b cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng trong thời gian tại nGại cũng như thời gian sinh sống tại đ a phương, phạm tội do ham muốn bộc phát nhất thời. Từ ngày xảy ra hành vi phạm tội đến nay luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú, không vi phạm điều cấm của luật. Hội đ ng xét xử xét thấy việc không cách ly b cáo ra khỏi xã hội không ảnh hưởng đến công tác phòng ngừa phạm tội, nhằm thể hiện tính khoan h ng của Nhà nước đối với người phạm tội lần đầu, khi quyết đ nh hình phạt, Hội đ ng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử lý đối với các b cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy đ nh tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì “Người phạm tội còn có thể b phạt tiền từ 5.000.000 đ ng đến 50.000.000 đ ng”. Xét các b cáo làm thuê không có tài sản, nên Hội đ ng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
Các biện pháp tư pháp khác
Về trách nhiệm dân sự: Do các b cáo đã khắc phục hậu quả xong, b hại không yêu cầu b i thường thiệt hại nên Hội đ ng xét xử không xem xét.
Xử lý vật chứng: Đối với tang vật là chiếc xe biển số 67T1 – 0184 thu h i được đã trả cho b hại Q là phù hợp quy đ nh pháp luật nên Hội đ ng xét xử không xem xét.
Hành vi xuất cảnh trái phép sang Campuchia để đánh bạc của các b cáo là vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với hành vi đánh bạc xảy ra trên lãnh thổ Campuchia và chỉ do các b cáo khai nhận nên chưa đủ căn cứ chứng M. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý các b cáo về hành vi này là có căn cứ.
Về án phí: B cáo H A, G mỗi người phải ch u 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội dA:
- Tuyên bố b cáo Bùi Văn H A phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Tuyên bố b cáo Trần Công G phạm tội "Trộm cắp tài sản".
2. Về hình phạt:
- Xử phạt b cáo Bùi Văn H A 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 12/4/2019).
- Xử phạt b cáo Trần Công G 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 12/4/2019).
Giao b cáo Bùi Văn H A, Trần Công G cho Ủy ban nhân dân xã B Thủy, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp b cáo Bùi Văn H A, Trần Công G thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 69 của Luật thi hành án hình sự năm 2010 quy đ nh để giám sát, giáo dục b cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên Tòa án có thể quyết đ nh buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Các biện pháp tư pháp khác
- Về trách nhiệm dân sự: Do các b cáo đã khắc phục hậu quả xong, b hại không yêu cầu b i thường thiệt hại nên Hội đ ng xét xử không xem xét.
- Xử lý vật chứng: Đối với tang vật là chiếc xe biển số 67T1 – 0184 thu h i được đã trả cho b hại Q là phù hợp quy đ nh pháp luật nên Hội đ ng xét xử không xem xét.
4. Về án phí:
- B cáo Bùi Văn H A phải ch u 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.
- B cáo Trần Công G phải ch u 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.
5. B cáo Bùi Văn H A, b cáo Trần Công G, người liên quan Trần Công M có mặt tại phiên tòa có Q kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; b hại, người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản bán hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - B cáo (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND tỉnh An Giang (1); - VKSND huyện C (1); - Nhà tạm giữ, THAHS CA HCP (2); - Bộ phận THA Tòa án (1); - CCTHADS huyện C (2); - Phòng h sơ (1); - Sở Tư Pháp tỉnh An Giang (1); - Lưu h sơ (1); - Lưu VT (1). TH NH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Tuấn Lý Khắc Chung | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Thi Lê Thị Hồng Thi |