vanban.org

Bản án 05/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Viết Đ về việc ly hôn, nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Viết Đ. Về con chung: Buộc anh Nguyễn Viết Đ giao 03 (ba) con chung tên Nguyễn VH, sinh ngày 19-8-2002; Nguyễn Việt Quỳnh T, sinh ngày 22-02-2010 và Nguyễn Việt H, sinh ngày 13-11-2014 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hiền và Nguyễn Viết đến tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Viết Đ về việc ly hôn, nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 05/2019/HNGĐ-ST
Ngày 21-01-2019
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH ÌNH DƯ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 1244/2018/TLST-HNGĐ 13/12/2018 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 183/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2018, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; thƣờng trú: Số 6/26A khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B; chỗ ở: Đ 3, xã T, huyện T, tỉnh H. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Viết Đ, sinh năm 1978; thƣờng trú: Số 6/26A khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/11/2018 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu khoảng 02 năm, chị H và anh Đ về chung sống với nhau từ năm 2002; có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T, tỉnh H, đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 02 quyển số 01/2001 ngày 05/02/2002, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Hai vợ chồng chung sống với nhau tại phƣờng T, thị xã D, tỉnh B. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc Đ năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đ thƣờng xuyên chơi đánh bài, cá độ đá bóng dẫn Đ nợ nần, không giành thời gian quan tâm chăm sóc vợ con và thiếu trách nhiệm với gia đình. Do những khoản nợ mà anh Đ gây ra nên vợ chồng thƣờng xuyên xảy ra cãi vã. Chị H đã tha thứ cho anh Đ rất nhiều lần, thậm chí chị còn chấp nhận bán hết tất cả tài sản của vợ chồng trong đó bao gồm cả căn nhà duy nhất tại số 6/26A khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B của hai vợ chồng để trả nợ cho anh Đ nhƣng anh vẫn không thay đổi. Cụ thể, mùa World cup năm 2018 anh Đ tiếp tục chơi cá độ đá bóng và thua hết số tiền còn lại của hai vợ chồng khi bán nhà. Anh Đ làm nghề lái xe không có chỗ ở ổn định. Để tạo điều kiện về chỗ ở và điều kiện học hành cho các con, từ tháng 9/2018 chị H đƣa hai cháu là Trâm và Hoàng về quê sinh sống cùng với mẹ ruột tại tỉnh Hà Tĩnh. Vợ chồng anh chị sống ly thân từ đó Đ nay. Khi vợ chồng mâu thuẫn anh em gia đình hai bên đều biết chuyện và đã hòa giải hàn gắn cho vợ chồng nhiều lần nhƣng đều không có kết quả. Bản thân chị H đã rất nhiều lần tha thứ cho anh Đ để cứu vãn mái ấm, hạnh phúc gia đình nhƣng anh Đ không trân trọng để thay đổi, Đ nay chị H không còn chút niềm tin gì cho ngƣời chồng của mình nữa. Chị H xác định khi bản thân đã quá mệt mỏi và không còn niềm tin thì chị không thể tha thứ thêm một lần nào nữa. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị H và anh Đ có với nhau 03 ngƣời con chung tên Nguyễn VH, sinh ngày 19-8-2002; Nguyễn Việt Quỳnh T, sinh ngày 22-02-2010 và Nguyễn Việt H, sinh ngày 13-11-2014. Hiện nay cháu Nguyễn VH đang sống một mình tại thị xã D, tỉnh B. Hai cháu Nguyễn Việt Quỳnh T và Nguyễn Việt H đang sống cùng chị H tại Đ3, xã T, huyện T, tỉnh H. Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị H yêu cầu đƣợc quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng 03 con và tự nguyện không yêu cầu anh Nguyễn Viết Đ cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/12/2018 và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Viết Đ trình bày: Anh thống nhất với lời khai của chị Nguyễn Thị H đã cung cấp cho Tòa án về thời gian tìm hiểu, đăng ký kết hôn, thời gian sống chung của hai vợ chồng. Anh Đ thừa nhận bản thân có tham gia chơi đành bài, cá độ đá bóng và đƣa bản thân vào tình cảnh nợ nần dẫn Đ phải bán căn nhà của hai vợ chồng tại số 6/26A khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B để trả nợ. Do anh gây ra khoản nợ làm ảnh hƣởng Đ kinh tế gia đình nên cuộc sống vợ chồng cũng có xảy ra cãi vã. Để ổn định chỗ ở và học hành cho các con nên anh đồng ý cho chị H đƣa hai con là Trâm và Hoàng về quê sinh sống. Mặc dù anh có lỗi là đã tham gia chơi đánh bạc nhiều lần và thua bạc làm cho kinh tế gia đình suy sụp nhƣng anh xác định vẫn còn thƣơng vợ, thƣơng con, không muốn gia đình tan nát. Khi mâu thuẫn gia đình xảy ra vợ chồng không làm đơn đề nghị bất cứ cơ quan nào hòa giải, việc cãi vã thì chỉ xảy ra trong nhà, anh Đ xác nhận chƣa khi nào đánh vợ; anh em gia đình hai bên đều biết mâu thuẫn của hai vợ chồng nhƣng họ để cho hai vợ chồng tự giải quyết với nhau. Từ khi chị H đƣa các con về quê do không có điều kiện nên anh chỉ về thăm đƣợc một lần. Anh Đ xác định vẫn còn tình cảm với chị H và mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để các con có cuộc sống đầy đủ cả ba và mẹ. Anh Đ hy vọng chị H cho anh thêm cơ hội để anh cố gắng làm việc, gây dựng lại kinh tế gia đình, từ nay anh sẽ không chơi đánh bạc nữa. Vì vậy, anh Đ không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị H và anh Đ có với nhau 03 ngƣời con chung tên Nguyễn VH, sinh ngày 19-8-2002; Nguyễn Việt Quỳnh T, sinh ngày 22-02-2010 và Nguyễn Việt H, sinh ngày 13-11-2014. Hiện nay cháu Nguyễn Việt H đang sống một mình, anh không biết đƣợc chỗ ở hiện nay của cháu Hƣơng. Hai cháu Nguyễn Việt Quỳnh T và Nguyễn Việt H đang sống với chị H tại Đ 3 , xã T, huyện T, tỉnh H. Trƣờng hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Đ đồng ý giao hai cháu là VH và T cho chị H chăm sóc nuôi dƣỡng; anh Đ yêu cầu đƣợc chăm sóc nuôi dƣỡng cháu H. Anh Đ và chị H không ai phải cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho Đ tại phiên tòa, Tòa án, nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về sự vắng mặt của đƣơng sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ các Điều 228, 238, 241 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án không chấp nhận yêu cầu xin hoãn phiên tòa để triệu tập nguyên đơn tham gia phiên tòa của bị đơn và tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Viết Đ có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh H và đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 02 quyển số 01/2001 ngày 05/02/2002 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Chị Nguyễn Thị H xác định quá trình chung sống với anh Đ vợ chồng chung sống hạnh phúc Đ năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đ thƣờng xuyên chơi đánh bài, cá độ đá bóng dẫn Đ nợ nần, không giành thời gian quan tâm chăm sóc vợ con và thiếu trách nhiệm với gia đình. Do những khoản nợ mà anh Đ gây ra nên vợ chồng thƣờng xuyên xảy ra cãi vã. Chị H đã tha thứ cho anh Đ rất nhiều lần, thậm chí chị còn chấp nhận bán hết tất cả tài sản của vợ chồng trong đó bao gồm cả căn nhà duy nhất mà cả gia đình đang sinh sống tại số 6/26A khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B để trả nợ nhƣng anh Đ vẫn không trân trọng để sửa đổi. Để tạo điều kiện về chỗ ở và điều kiện học hành cho các con, từ tháng 9/2018 chị H đƣa hai cháu là Trâm và Hoàng về quê sinh sống cùng với mẹ ruột tại tỉnh H. Vợ chồng anh chị sống ly thân từ đó Đ nay. Anh Nguyễn Viết Đ xác định vẫn còn thƣơng vợ, thƣơng con nên không đồng ý ly hôn và muốn vợ chồng đoàn tụ nhƣng không đƣợc chị H chấp nhận.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt đƣợc mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Tuy nhiên, do mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh Đ đã diễn ra trong thời gian dài nhƣng cả hai ngƣời cũng không có giải pháp nào để khắc phục. Anh Đ thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chơi đánh bạc, đƣợc chị H tha thứ nhiều lần nhƣng vẫn tiếp tục chơi làm cho kinh tế gia đình suy sụp, căn nhà là nơi sinh sống của cả gia đình mà vợ chồng tạo lập đƣợc cũng phải bán để lấy tiền trả nợ, dẫn Đ vợ chồng phải sống ly thân. Anh Đ xác định vẫn còn tình cảm với vợ nhƣng anh không có phƣơng án nào để cải thiện, hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không mang lại hạnh phúc cho nhau, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị H và anh Đ tại Hội liên hiệp phụ nữ phƣờng T, quá trình chung sống tại địa phƣơng khi có mâu thuẫn chị H và anh Đ không yêu cầu cơ quan, tổ chức nào tại địa phƣơng hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, chị H yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Đ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 03 (ba) ngƣời con chung tên Nguyễn VH, sinh ngày 19-8-2002; Nguyễn Việt Quỳnh T, sinh ngày 22-02-2010 và Nguyễn Việt H, sinh ngày 13-11-2014. Tại phiên tòa anh Đ yêu cầu đƣợc quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dƣỡng cháu H. Xét thấy cháu H hiện còn rất nhỏ nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc từ ngƣời mẹ. Hiện nay anh Đ làm nghề lái xe tải, không có chỗ ở ổn định. Anh Đ cho rằng đã nhận đƣợc sự đồng ý của chị H cho anh nuôi cháu H nhƣng tại phiên tòa anh không cung cấp đƣợc chứng cứ để chứng minh. Hội đồng xét xử cần xem xét Đ sự phát triển của con chƣa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hay mẹ trực tiếp nuôi dƣỡng. Hiện tại các cháu T và H đang sống với mẹ, trong bản tự khai cung cấp cho Tòa án cháu VH và cháu T đều có nguyện vọng đƣợc sống với mẹ. Vì vậy, chị H yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng 03 (ba) con chung là có căn cứ, phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị H không yêu cầu anh Đ cấp dƣỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của chị nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 241, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Viết Đ về việc ly hôn, nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Viết Đ.

- Về con chung: Buộc anh Nguyễn Viết Đ giao 03 (ba) con chung tên Nguyễn VH, sinh ngày 19-8-2002; Nguyễn Việt Quỳnh T, sinh ngày 22-02-2010 và Nguyễn Việt H, sinh ngày 13-11-2014 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị H về việc không yêu cầu anh Nguyễn Viết Đ cấp dƣỡng nuôi con.

Sau ly hôn, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Viết Đ đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh Đ lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu Đ việc chị H nuôi con thì chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và mức cấp dƣỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0027819, ngày 12-12-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Bị đơn có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ