vanban.org

Bản án 05/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 25/04/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tình cảm: Xử cho anh Hà Việt H được ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh T.

[2] Về con chung: Không có. [3] Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn anh Hà Việt H - Bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh T"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tình cảm: Xử cho anh Hà Việt H được ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25-4-2019
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thiện Tố.

2. Ông Trần Văn Tuyến.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Long - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cường Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXX-ST ngày 20 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Hà Việt H, sinh năm 1970; Hiện cư trú: 2041 Shepherds glen Ln, Arlington, TX 76010(432) 258-6766 USA (Mỹ).

Địa chỉ liên hệ: Số 01, đường Trần Văn K, phường 14, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1979; địa chỉ: Số 27 đường N, phường 1, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 9 năm 2018, bản tự khai ngày 27/12/2018 nguyên đơn anh Hà Việt H trình bày: Năm 2012 anh Hà Việt H và chị Nguyễn Thị Thanh T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị, vào sổ đăng ký kết hôn số 18 Quyển số 01/2012 ngày 02 tháng 7 năm 2012. Sau khi kết hôn, anh H trở về Mỹ làm việc để lo thủ tục bảo lãnh cho chị T sang Mỹ định cư sinh sống. Tuy nhiên, đến năm 2013 vợ chồng xảy ra mâu thuẩn, nguyên nhân do chị T có quan hệ ngoài luồng với người đàn ông khác; mặc dù, anh H nhiều lần khuyên giải để đảm bảo hạnh phúc gia đình nhưng chị T vẫn không thay đổi; từ đó, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Hà Việt H được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh T.

Về con chung: Không có

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Chị Nguyễn Thị Thanh T đã được Tòa án gửi Thông báo thụ lý vụ án số 09/TB-TLVA ngày 07/12/2018 theo địa chỉ: Số 27, đường N, phường 1, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị người nhận là bà Nguyễn Thị E (Mẹ chị T), nhưng chị T không có văn bản trình bày ý kiến.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị:

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa anh Hà Việt H với chị Nguyễn Thị Thanh T là hợp pháp. Tuy nhiên, sau khi kết hôn vợ chồng xảy ra mâu thuẩn và sống ly thân với nhau thời gian dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Hà Việt H được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh T.

Về con chung: Không có;

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh Hà Việt H phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1.] Về tố tụng:

Đây là vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại các Điều 28, 37, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải do chị Nguyễn Thị Thanh T vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được; Tòa án đã tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định của pháp luật, phiên tòa ngày 09/4/2019 cả nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt nên Quyết định hoãn phiên tòa. Anh Hà Việt H đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thị Thanh T được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng giao cho người thân là ông Nguyễn Minh H (Bố chị T), do chị T vắng mặt nơi cư trú và ông H cho biết: Chị T đi xa không về, không rõ ở đâu. Theo Công văn số 02/CV- CAP1 ngày 01/3/2019 của Công an phường 1, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị trả lời kết quả xác minh có nội dung là chị Nguyễn Thị Thanh T có hộ khẩu thường trú tại Khu phố 3, phường 1, thị xã Q hiện đang sinh sống và làm ăn tại Thành phố Hồ Chí Minh, không có mặt ở địa phương; do đó, Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai theo quy định tại khoản 5 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân giữa anh Hà Việt H với chị Nguyễn Thị Thanh T là hợp pháp, có đăng ký kết hôn năm 2012 tại Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị. Sau khi kết hôn anh H trở về Mỹ sinh sống, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau. Qua xác minh, thu thập chứng cứ thì thấy; do anh H và chị T không sinh sống tại địa phương nên chính quyền địa phương không biết được mâu thuẩn của vợ chồng. Theo anh H thì từ năm 2013 cho đến nay vợ chồng sống ly thân. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh H với chị T đã mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh H xin ly hôn với chị T vì xét thấy tình cảm vợ chồng không còn. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Hà Việt H được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh T.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Về án phí: Anh Hà Việt H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 469, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

[1] Về tình cảm: Xử cho anh Hà Việt H được ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh T.

[2] Về con chung: Không có.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

[4] Về án phí: Anh Hà Việt H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 000575 ngày 05 tháng 12 năm 2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Anh H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Hà Việt H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng; chị Nguyễn Thị Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ