vanban.org

Bản án 05/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các Điều 53, 56, 57, 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, khoản 1 Điều 227, 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1- Về quan hệ hôn nhân xử: Chị Linh Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn H. 2- Về con chung xử: Giao cháu Nguyễn Trà M, sinh ngày 10-6-2015 cho chị Linh Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 53, 56, 57, 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, khoản 1 Điều 227, 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử chị M; Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình xử giao cháu Nguyễn Trà M; Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình xử giao cháu Nguyễn Trà M
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ơ
Bản án số: 05/2019/HNGĐ- ST
Ngày 26-02-2019
V/v ly hôn và nuôi con
sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN- TỈNH YÊN BÁI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Hà Thị Minh Quế

- Ông Phạm Thanh Châu Giang

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiếu- Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Văn Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên tham gia phiên tòa: Ông Lộc Hồng Điệp- Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Yên mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 300/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 12-02-2019 giữa;

Nguyên đơn: Chị Linh Thị M, sinh năm 1993

Địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái- Có mặt

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1991;

Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái

Hiên nay đang chấp hành án phạt tù tại phân trại 4, trại giam Thanh Phong đóng trên địa bàn Thị trấn Nông Cống, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa- Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và bản tự khai ngày 04 tháng 12 năm 2018 nguyên đơn chị Linh Thị M trình bày: Tôi và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau ngày 20 tháng 11 năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện V, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống hạnh phúc đến tháng 10-2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H mải chơi, đua đòi không tu chí gia đình, đã mắc vào các tệ nạn xã hội. Tôi đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh H không thay đổi. Tôi đã sống ly thân anh H từ tháng 6-2018. Nay tôi xác định tình cảm không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh H.

Về con chung: Tôi và anh H có một con chung tên là Nguyễn Trà My, sinh ngày 10-6-2015. Tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu My, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại bản tự khai ngày 06-01-2019 bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Tôi kết hôn với cô Linh Thị M tháng 10 năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện V, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến khi tôi bị bắt thì mâu thuẫn. Nguyên nhân là tôi bị đi tù nên tình cảm vợ chồng đã hết, cô M xin ly hôn tôi đồng ý.

Về con chung: Tôi và cô M có một con chung tên là Nguyễn Trà M, sinh năm 2015. Vì tôi đang phải chấp hành án phạt tù nên tôi đòng ý để cô M trực tiếp nuôi cháu M, sau khi tôi chấp hành án xong tôi về cùng cô M nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi và cô M Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì Anh H phải chấp hành án trong trại giam nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên tại phiên tòa hôm nay phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật Thẩm phán, thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đúng thành phần thực hiện nguyên tắc xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật. Nguyên đơn đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn hiện đang chấp hành án tại trại giam Thanh Phong- Thanh Hóa có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt của bị đơn.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 53, 56 và 57, 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; điều 147, khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 xử chị Linh Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn H; giao cháu Nguyễn Trà My cho chị Linh Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

{1} Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn đang chấp hành án tại trại giam Thanh Phong- Thanh Hóa có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án đã tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt của bị đơn.

{2} Về tư cách người tham gia tố tụng: Tòa án xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn, bị đơn trong vụ án.

{3} Về tình cảm: Chị Linh Thị M và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau ngày 20 tháng 11 năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện V, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu. Đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị M và anh H chung sống hạnh phúc đến tháng 10-2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H mải chơi, đua đòi không tu chí gia đình, đã mắc vào các tệ nạn xã hội. Chị M đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh H không thay đổi. Chị M đã sống ly thân anh H từ tháng 6-2018. Về phía anh H cũng xác định nguyên nhân mâu thuẫn là từ khi anh H bị bắt phải đi chấp hành án phạt tù nên tình cảm đã hết chị M xin ly hôn anh H cũng đồng ý. Hội đồng xét xử thấy rằng: Mâu thuẫn giữa chị M và anh H là trầm trọng. đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị M là có căn cứ, được chấp nhận. Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử chị M được ly hôn anh H.

{4} Về con chung: Chị M và anh H có một con chung tên là Nguyễn Trà M, sinh ngày 10-6-2015. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu M, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Hôi đồng xét xử thấy rằng: Cháu M hiện nay còn nhỏ, đang ở cùng chị M nên rất cần cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của người mẹ. Anh H hiện đang phải chấp hành án phạt tù không có điều kiện nuôi dưỡng cháu M được. Nên yêu cầu của chị M được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M là có căn cứ, phù hợp với pháp luật, phù hợp với thực tế được chấp nhận. Áp dụng Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình xử giao cháu Nguyễn Trà M cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con

{5} Về tài sản chung và nợ chung: Chị M và anh H không có tài sản chung, không nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

{6} Về án phí: Chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật

{7} Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào các Điều 53, 56, 57, 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, khoản 1 Điều 227, 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1- Về quan hệ hôn nhân xử: Chị Linh Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

2- Về con chung xử: Giao cháu Nguyễn Trà M, sinh ngày 10-6-2015 cho chị Linh Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con không ai được ngăn cản.

3- Về án phí: Chị Linh Thị M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị M đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số: AA/2017/0001172 ngày 04-12-2018 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Yên. Chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4- Quyền kháng cáo:

Chị Linh Thị M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ