- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị T-Nguyễn Xuân Q"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Vũ Xuân Q.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2019/HNGĐ-ST Ngày: 03-4-2019 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thẩm.
2. Ông Hoàng Ngọc Thành.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2019/TLST-HNG§ ngµy 03/01/2019 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/02/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 06 ngày 15/3/2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990; (có đơn xin xét xử vắng mặt).
ĐKHK: Xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Hiện trú tại: Thôn V, xã T1, huyện T, tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn: Anh Vũ Xuân Q, sinh năm 1988; vắng mặt.
ĐKHKTT: Thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương.
3. Ng êi lµm chøng:
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; cư trú tại: Thôn V, xã T1, huyện T, tỉnh Hải Dương; (vắng mặt).
- Ông Vũ Văn M, sinh năm 1957; cư trú tại: Thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn trình bày: Chị và anh Vũ Xuân Q kết hôn ngày 01/04/2011 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống hạnh phúc khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, không cùng quan điểm sống nên thường xuyên cãi chửi nhau. Từ tháng 2/2014 chị đã bỏ về nhà đẻ ở, và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Q nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Q.
Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Vũ Thảo M, sinh ngày 30/8/2014, đang ở cùng với chị và ông bà ngoại. Khi ly hôn, chị xin nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị làm công nhân, thu nhập trung bình là 7 triệu đồng/ tháng.
Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, TAND huyện Thanh Hà đã nhiều lần tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định pháp luật nhưng bị đơn không đến Tòa án làm việc và không có quan điểm gì đối với yêu cầu của nguyên đơn.
* Lời khai của gia đình anh Q, chị T và tài liệu xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Vợ chồng anh Q, chị T sau một thời gian chung sống hạnh phúc đã nảy sinh mâu thuẫn. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ nhiều năm nay. Ngoài ra, gia đình anh Q và địa phương còn ý kiến hiện nay anh Q đi làm ăn xa, nên đề nghị giao con cho chị T nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi của con.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt.
Đại diện VKSND huyện Thanh Hà phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân, xử chị T ly hôn anh Q. Về con chung: Giao con chung là Vũ Thảo M, sinh ngày 30/8/2014 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên. Chấp nhận tự nguyện của chị T không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, người làm chứng vắng mặt và đã có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng theo quy định tại Điều 227, 229 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị T, anh Q có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T trên cơ sở tự nguyện nên là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị T, anh Q đã nảy sinh mâu thuẫn; nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống. Thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ nhiều năm nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị T không còn thương yêu, không còn tình cảm với anh Q và kiên quyết xin ly hôn với anh, làm cho quan hệ hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử chị T ly hôn anh Q là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
. Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị T, anh Q có 01 con chung là Vũ Thảo M, sinh ngày 30/8/2014. Xét chị T có nguyện vọng xin nuôi con chung và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Mặt khác, chính quyền địa phương và gia đình anh Q đều có ý kiến hiện anh Q đi làm ăn ở xa nên đề nghị giao con cho chị T nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi của con. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
. Về tài sản, công sức, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy HĐXX không xem xét.
. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Vũ Xuân Q.
2. Về con chung: Giao con chung là Vũ Thảo M, sinh ngày 30/8/2014 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên. Chấp nhận tự nguyện của chị T không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn, được đối trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2017/0000319 ngày 03/1/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; chị T đã thi hành xong nghĩa vụ về án phí.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Tm. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thanh Hà; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà; - Các đương sự; - UBND xã L, huyện Thanh Hà; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhung |