vanban.org

Bản án 05/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa Anh Võ Văn Rvà chị Huỳnh Thị Tiên.

[2] Về con chung: Giao con chung là Võ Huỳnh Ngọc Yến, sinh ngày 03/7/2010 cho Anh Võ Văn R trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Văn R ly hôn Huỳnh Thị T"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa Anh Võ Văn Rvà chị Huỳnh Thị Tiên.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 15-3-2019
V/v tranh chấp Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Thinh

2. Bà Tăng Thị Bạch Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà: Trần Thị Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Ông Dương Thanh Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 447/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2019/QĐXX-ST ngày 30 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Võ Văn R, sinh năm 1990.

Địa chỉ: số 306/7, ấp P, xã P, huyện K, tỉnh S.

2. Bị đơn: Chị Huỳnh Thị T, sinh năm 1992.

Địa chỉ HKTT: Địa chỉ: số 306/7, ấp P, xã P, huyện K, tỉnh S.

Địa chỉ cư trú: ấp H, xã X, huyện K, tỉnh S.

(Anh R có mặt; chị T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là Anh Võ Văn R trình bày:

Anh Võ Văn R và chị Huỳnh Thị Tcó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phong Nẫm, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng vào năm 2010. Quan hệ vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 02/ 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả. Anh Rực và chị Tiên đã ly thân từ đó cho đến nay.

Về con chung: có 02 con chung là Võ Huỳnh Ngọc Yến, sinh ngày 03/7/2010 và Võ Huỳnh Thị Diễm My, sinh ngày 22/8/2012. Hiện cháu Yến đang ở cùng với anh R, riêng cháu My do chị T nuôi dưỡng từ lúc vợ chồng ly thân..

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Nay anh R yêu cầu được ly hôn với chị Huỳnh Thị T.

Anh R yêu cầu được nuôi con chung là cháu Võ Huỳnh Ngọc Yến,sinh ngày 03/7/2010, đồng ý giao con chung là cháu Võ Huỳnh Thị Diễm My, sinh ngày 22/8/2012 cho chị T nuôi dưỡng, không bên nào phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là chị Huỳnh Thị T(vắng mặt)

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phát biểu:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và tư cách của người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Theo các tài liệu thể hiện trong hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy quan hệ vợ chồng giữa anh R và chị T đã mâu thuẫn trầm trọng. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh R, cho anh R được ly hôn với chị T.

Về con chung: Do con chung là Võ Huỳnh Ngọc Yến, sinh ngày 03/7/2010 hiện nay đang ở cùng với anh R từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Yến, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh R, giao con chung là Võ Huỳnh Ngọc Yến, sinh ngày 03/7/2010 cho anh Rtiếp tục nuôi dưỡng.

Riêng con chung là Võ Huỳnh Thị Diễm My, sinh ngày 22/8/2012, theo lời khai của anh R hiện đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời anh R cũng có ý kiến đồng ý giao cháu My cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng sau khi vợ chồng ly hôn. Xét thấy, đây là quyền tự định đoạt của anh R, cũng phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là Võ Huỳnh Thị Diễm My, sinh ngày 22/8/2012 cho chị T nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên Tòa, do anh R không có yêu cầu và cũng không có ý kiến tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cùng chị T nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung do các đương sự khai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vắng mặt không rõ lý do và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đồng thời bị đơn không có yêu cầu phản tố. Xét thấy, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách đã tiến hành các thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho bị đơn đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Cho nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ và đúng với quy định tại khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dấn sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Theo Biên bản ngày 10/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách có xác định “….. nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp là do anh Rực không có tình cảm với chị Tiên nên gia dình không có hạnh phúc…..”. Xét thấy, quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã thật sự tan vỡ, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Bỡi lẽ, theo lời trình bày của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở để xác định cuộc sống vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, nguyên đơn yêu cầu ly hôn bị đơn là có căn cứ và chính đáng, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: theo lời khai của nguyên đơn cũng như các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung là Võ Huỳnh Ngọc Yến, sinh ngày 03/7/2010 và Võ Huỳnh Thị Diễm Mỹ, sinh ngày 22/8/2012. Hiện cháu Yến đang ở cùng với nguyên đơn, riêng cháu My do bị đơn đang trực tiếp nuôi dưỡng. Tại phiên Tòa, nguyên đơn yêu cầu được tiếp tục được nuôi con chung là Võ Huỳnh Ngọc Yến, sinh ngày 03/7/2010, đồng thời có ý kiến đồng ý giao con chung là Võ Huỳnh Thị Diễm My, sinh ngày 22/8/2012 cho bị đơn tiếp tục nuôi dưỡng nếu vợ chồng ly hôn.

Xét thấy, con chung là Võ Huỳnh Ngọc Yến, sinh ngày 03/7/2010 đã được nguyên đơn nuôi dưỡng ổn định từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, đồng thời để tránh những xáo trộn trong đời sống, tâm sinh lý, gây ra những ảnh hưởng không tốt đến việc phát triển bình thường của con chung, và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Yến. Cho nên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về nuôi con chung của nguyên đơn, tiếp tục giao con chung là Võ Huỳnh Ngọc Yến, sinh ngày 03/7/2010 cho nguyên đơn nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với con chung là Võ Huỳnh Thị Diễm My, sinh ngày 22/8/2012. Xét thấy, theo lời khai của ông Huỳnh Văn Sáng – là cha ruột của bị đơn cũng xác định “...Hiện nay Tiên đang nuôi đứa nhỏ....”. Như vậy, đã có đủ cơ sở để xác định, hiện trạng cháu My đang được bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng là đúng. Do nguyên đơn cũng có ý kiến đồng ý giao cháu My cho bị đơn nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến này của nguyên đơn, tiếp tục giao con chung là Võ Huỳnh Thị Diễm My, sinh ngày 22/8/2012 cho bị đơn nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do nguyên đơn không có yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con, đồng thời cũng không có ý kiến tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cùng chị Tiên nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử phải đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Do nguyên đơn khai không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.

Về án phí HNST: Nguyên đơn phải chịu án phí HNST.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2, Điều 227, khoản 3, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa Anh Võ Văn Rvà chị Huỳnh Thị Tiên.

[2] Về con chung:

Giao con chung là Võ Huỳnh Ngọc Yến, sinh ngày 03/7/2010 cho Anh Võ Văn R trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Giao con chung là Võ Huỳnh Thị Diễm My, sinh ngày 22/8/2012 cho chị Huỳnh Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Anh Võ Văn R và chị Huỳnh Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung:

Anh Võ Văn R không phải cấp dưỡng nuôi con chung là Võ Huỳnh Thị Diễm My, sinh ngày 22/8/2012 do chị Tiên không có yêu cầu.

Chị Huỳnh Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung là Võ Huỳnh Ngọc Yến, sinh ngày 03/7/2010 do anh Rực không có yêu cầu.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Do Anh Võ Văn Rkhai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.

[5] Về án phí, chi phí tố tụng:

Anh Võ Văn R phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm. Anh Rực đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004390 ngày 04/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kế Sách không phải nộp tiếp.

Án xử công khai, Anh Võ Văn R có mặt tại phiên Tòa và có mặt khi tuyên án. Chị Huỳnh Thị T không có mặt tại phiên Tòa và cũng không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên Tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án tuyên vào lúc 11 giờ cùng ngày./.

Cỡ chữ