- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "THAY ĐỔI NUÔI CON"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ________________ Bản án số:05/2019/HNGĐ-ST Ngày 28-3-2019 V/v: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN- TỈNH YÊN BÁI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Duy Đô
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Nguyễn Quang Long;
2- Bà Nguyễn Kim Dung.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đỗ Quỳnh, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện Kiểm sát nhândân huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Mạc Minh Song- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 306/2018/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 12 năm 2018 về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXX-ST ngày 18 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Triệu Thị T 35 tuổi
Địa chỉ: Thôn V xã P- huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bịđơn: Anh Dương Thanh T 36 tuổi
Địa chỉ: Thôn V xã P- huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 26-12-2018 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Triệu Thị T trình bày: Chị và anh Dương Thanh T được Toà án nhân dân huyện Lục Yên giải quyết ly hôn tháng 10 năm 2018. Khi ly hôn hai bên thoả thuận thống nhất anh Dương Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Dương Triệu V sinh ngày 07-11-2011; chị T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng và có quyền thăm nom con chung. Tuy nhiên sau khi ly hôn anh T không ở nhà trực tiếp nuôi con mà bỏ bê cháu V cho ông bà ngoại của cháu nuôi, toàn bộ việc ăn uống, học hành, quần áo, sách vở đều do chị lo liệu. Nay chị đề nghị thay đổi lại chị sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Việt Anh và yêu cầu anh Dương Thanh T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Trong bản tự khai ngày 17-01-2019 và tại phiên hòa giải bị đơn là anh Dương Thanh T trình bày: Sau khi ly hôn anh vẫn là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V, chỉ khi đi vắng anh mới gửi ông bà ngoại. Nay Chị T xin thay đổi người trực tiếp nuôi con anh không đồng ý vì chị T bỏ đi theo người khác nên không có khả năng và cũng không đủ tư cách nuôi con. Hiện tại anh làm kỹ sư xây dựng thu nhập bình quân hàng tháng 8 triệu đồng, anh khẳng định mình có đủ điều kiện để nuôi con.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến: Qúa trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao cháu Dương Triệu V cho chị Triệu Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con…
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về yêu cầu khởi kiện: Chị Triệu Thị T và anh Dương Thanh Tđược Toà án nhân dân huyện Lục Yên giải quyết ly hôn tháng 10 năm 2018. Khi ly hôn hai bên thoả thuận thống nhất anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Dương Triệu V, chị T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng và có quyền thăm nom con. Tuy nhiên sau khi ly hôn chị T cho rằng anh T đã không thực hiện đúng thoả thuận, để con cho ông bà ngoại nuôi; điều kiện sinh sống, học hành của cháu V không đảm bảo. Nay chị khởi kiện yêu cầu thay đổi lại, chị sẽ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Dương Triệu V và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Qúa trình giải quyết vụ án các đương sự không thoả thuận được, cả chị Triệu Thị T và anh Dương Thanh T đều khẳng định mình có đủ điều kiện và đề nghị được nuôi cháu Việt Anh.
Theo quy định tại khoản 2 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình thì “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Phải khẳng định nguyện vọng nuôi con của các đương sự hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên kết quả xác minh tại địa phương cho thấy anh Dương Thanh T hiện làm xây dựng thường xuyên phải xa nhà, ít có điều kiện gần gũi con; toàn bộ việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V là do ông bà ngoại và mẹ cháu lo liệu. Mặt khác cháu V đã trên 07 tuổi và có đơn đề nghị được ở với mẹ. Tại phiên tòa anh T nhất trí để chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Dương Triệu V. Quan điểm này của anh T là phù hợp với hoàn cảnh thực tế và đáp ứng được nguyện vọng của cháu V.
Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 điều 82 Luật hôn nhân và gia đình thì “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Như vậy yêu cầu của chị T về vấn đề này là chính đáng. Theo lời khai của anh T thì thu nhập khoảng 8.000.000 đồng/tháng, tuy nhiên hiện tại công việc xây dựng của doanh nghiệp rất bấp bênh, tùy thuộc vào công trình lúc có lúc không; mặt khác anh vẫn đang phải thuê nhà để ở nên chỉ đồng ý mức cấp dưỡng 1.000.000 đồng/1 tháng. Căn cứ vào hoàn cảnh thực tế, Hội đồng xét xử thấy rằng mức cấp dưỡng theo đề nghị của anh T là phù hợp cần chấp nhận.
[2] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên chị Triệu Thị T được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp; anh Dương Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ các điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điều 357 Bộ luật Dân sự; khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao cháu Dương Triệu V sinh ngày 07-11-2011 cho chị Triệu Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Dương Thanh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 (Một triệu) đồng kể từ tháng 4 năm 2019 cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi và có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 1 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 điều 26; điểm a khoản 6 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Anh Dương Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, tổng cộng là 600.000 đồng.
- Chị Triệu Thị T được hoàn lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên- tỉnh Yên bái theo biên lai số AA/2017/0002405 ngày 26-12- 2018.
3- Quyền kháng cáo: Anh Dương Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị Triệu Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
4- Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - Các đương sự; - Lưu HS-TA-THS. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Duy Đô |