vanban.org

Bản án 05/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận mối quan hệ giữa chị Thào Thị V và anh Ma Seo Ch là quan hệ vợ chồng.

Về nuôi con khi ly hôn: Giao cho chị Thào Thị V được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Thào Thị Th - Sinh ngày 15 tháng 03 năm 2017, cho đến khi cháu Th đủ 18 tuổi. Anh Ma Seo Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Thào Thị V xin Ly hôn anh Ma Seo Ch"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận mối quan hệ giữa chị Thào Thị V và anh Ma Seo Ch là quan hệ vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố quan hệ giữa chị Thào Thị V và anh Ma Seo Ch; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố quan hệ giữa chị Thào Thị V và anh Ma Seo Ch; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05 /2019/HNGĐ- ST
Ngày: 11/4/2019
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Thanh

+ Ông Vàng Văn Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2019. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 14/2019/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 01 năm 2019 về “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2019/QĐXX- ST, ngày 13 tháng 03 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2019/QĐST- HNGĐ, ngày 28/03/2019 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Thào Thị V. Địa chỉ: Thôn Kh, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

2.Bị đơn: Anh Ma Seo Ch. Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 11/01/2019 và bản tự khai tiếp theo nguyên đơn chị Thào Thị V trình bày: Chị và anh Ch về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2016. Nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND cấp có thẩm quyền theo quy định. Sau khi cưới anh chị sống hạnh phúc được một thời gian đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do từ khi chị sinh con, anh Ch không quan tâm gì tới hai mẹ con chị, thường xuyên chửi, đuổi mẹ con chị về nhà bố mẹ đẻ ở. Do anh Ch đuổi chị, nên chị đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 11 năm 2017 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm không còn, để đảm bảo cuộc sống sau này của mỗi người, chị lµm ®¬n ®Ò nghÞ Toµ ¸n gi¶i quyÕt cho chị được ly hôn với anh Ma Seo Ch.

VÒ con chung: Quá trình chung sống giữa chị và anh Ch đã có 01 con chung. Cháu tên là Thào Thị Th - Sinh ngày 15 tháng 03 năm 2017. Hiện nay cháu đang ở cùng với chị. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi cháu Th, cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Th mỗi tháng là 500.000 đồng (Năm trăm đồng), cho đến khi cháu Th đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Chị V không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 22/01/2019 bị đơn anh Ma Seo Ch trình bày: Anh hoàn toàn nhất trí với lời trình bày của chị V về thời gian sống chung và quá trình chung sống từ năm 2016 cho đến nay, nhưng anh chị không đến UBND cấp có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký kết hôn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do khi anh và chị V đi làm nương, anh có bảo chị V sưởi ấm cho hai đứa cháu anh, nhưng chị V không nghe, anh đi sười ấm cho các cháu thì chị V về nhà đòi điện thoại và bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, anh đã đi đón nhiều lần nhưng chị V không về. Nay chị V làm đơn xin ly hôn anh, anh không nhất trí ly hôn.

Về con chung: Trong thời gian sống chung giữa anh và chị V có 01 con chung. Cháu tên là Thào Thị Th - Sinh ngày 15 tháng 03 năm 2017. Hiện cháu đang sống cùng với chị V. Anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được nuôi cháu Th cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh không yêu cầu chị V phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh Ch không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố: Không công nhận mối quan hệ giữa chị Thào Thị V với anh Ma Seo Ch là vợ chồng. Về nuôi con khi ly hôn: Áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình: Giao cho chị Thào Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Thào Thị Th - Sinh ngày 15 tháng 03 năm 2017, cho đến khi cháu Thu đủ 18 tuổi. Anh Ma Seo Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Thào Thị V và anh Ma Seo Ch về chung sống với nhau từ năm 2016, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, được gia đình hai bên đồng ý, nhưng không có đăng ký kết hôn. Đến thời điểm chị Thào Thị V làm đơn khởi kiện xin ly hôn thì chị V và anh Ch đã có đủ các điều kiện để đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật, nhưng chị V và anh Ch đã không thực hiện nghĩa vụ đăng ký kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình. Như vậy, việc chị V và anh Ch chung sống không có đăng ký theo qui định là vi phạm Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết, áp dụng khoản 1 Điều 14; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố quan hệ giữa chị Thào Thị V và anh Ma Seo Ch không phải là vợ chồng.

Về nuôi con khi ly hôn: Cả hai anh chị đều thừa nhận có 01 con chung. Cháu tên là Thào Thị Th - Sinh ngày 15 tháng 03 năm 2017. Chị V và anh Ch đều có nguyện vọng xin được nuôi con.

Tại Biên bản hòa giải về quan hệ nuôi con khi ly hôn ngày 07/03/2019. Chị Thào Thị V vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi cháu Th, chị không yêu cầu anh Ch phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Ch đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được nuôi cháu Th và không yêu cầu chị V phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tại phiên tòa hôn nay chị V vẫn giữ nguyên quan điểm xin được nuôi cháu Th, chị không yêu cầu anh Ch phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy chị Thào Thị V và anh Ma Seo Ch đều làm ruộng, nương, thu nhập ngang nhau, anh chị đều có điều kiện nuôi dạy con cái trưởng thành. Nhưng xét yêu cầu của chị V xin được nuôi cháu Th hoàn toàn phù hợp với thực tế, vì cháu Thào Thị Th còn nhỏ, cháu chưa đủ 36 tháng tuổi. Hơn nữa, từ khi cháu sinh ra cho đến nay cháu sống cùng với chị V ở gia đình nhà bố mẹ chị V, do chị V trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng. Xét yêu cầu của chị V là phù hợp với khoản 3 Điều 81 của Luận Hôn nhân và gia đình, nên cần giao cháu Thào Thị Th cho chị Thào Thị V trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Th cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Xét việc chị không yêu cầu anh Ch phải cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn tự nguyện. Nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, anh Ma Seo Ch vắng mặt, nhưng tại bản tự khai và phiên hòa giải anh Ma Seo Ch đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được nuôi cháu Th, anh không yêu cầu chị V phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của anh Ch không phù hợp với thực tế, vì hiện nay cháu Th còn nhỏ, việc trông non, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Th đều do chị V đảm nhiệm và không đúng với quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên không được chấp nhận.

Về tài sản chung: Chị Thào Thị V và anh Ma Seo Ch đều thừa nhận không có tài sản chung và không đề nghị Toà án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Thào Thị V phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Chị Thào Thị V và anh Ma Seo Ch được quyền kháng cáo Bản án theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 14; Điều 53; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận mối quan hệ giữa chị Thào Thị V và anh Ma Seo Ch là quan hệ vợ chồng.

2.Về nuôi con khi ly hôn: Giao cho chị Thào Thị V được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Thào Thị Th - Sinh ngày 15 tháng 03 năm 2017, cho đến khi cháu Th đủ 18 tuổi. Anh Ma Seo Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Thào Thị V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng) tiền

̀ án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi dân sự sơ thẩm đa ̃

́ nô ̣p là 300.000 đồng theo biên lai số 0002325, ngày 18 tháng 01 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Hà.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6;7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ