- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "VPbank - Đ"
- Tòa quyết gì? Luật Các tổ chức tín dụng.
- Căn cứ chính? Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 05/2019/DS - ST Ngày: 20/3/2019 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Lợi
2. Ông Dương Xuân Đính
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hà- Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Đông Anh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh,
Thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh đã tiến hành mở phiên tòa
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 02/2019/TLST- DS ngày 02
tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐXX - ST ngày 01 tháng 3 năm 2019 giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V (VPBank).
Trụ sở: Số 89 phố L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch Hội đồng quản
trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A – Phó Giám đốc
Trung tâm pháp luật ngân hàng SME và cá nhân (Giấy ủy quyền số
11/2018/UQ-HĐQT ngày 02/3/2018.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Lý Viết T, ông
Nguyễn Trung H, ông Đào Duy Hoàng T (Văn bản ủy quyền số 2996/2018/UQ-
VPB ngày 04/10/2018).
- Bị đơn: Ông Mai Duy Đ, sinh năm 1974.
Trú tại: Thôn K, xã U, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
Có mặt: Đại diện ngân hàng (Ông T), ông Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như các tài liệu có trong hồ sơ,
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 07/7/2016, Ngân hàng Thương mại cổ phần V (sau đây viết tắt là
“VPBank”) và ông Mai Duy Đ đã ký kết “Giấy đăng ký mở và sử dụng khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn” số 20160713-101066 – 0592 (LD 619500528). Theo đó, VPBank cho ông Mai Duy Đ vay số tiền là 52.500.000 đồng; Thời hạn vay là 36 tháng tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên (13/7/2016); Mục đích vay: Tiêu dùng; mức lãi suất cho vay: 40%/năm.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, VPBank đã giải ngân cho
khách hàng thông qua việc mở tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, Dịch vụ Ngân hàng điện tử và vay vốn số tiền là 52.500.000 đồng. Từ ngày 13/7/2016 đến ngày 30/9/2017 ông Mai Duy Đ đã trả được 8.970.987 đồng nợ gốc và 17.068.780 đồng tiền lãi. Kể từ ngày 30/9/2017 cho đến nay ông Mai Duy Đ không trả nợ gốc và nợ lãi nên toàn bộ khoản nợ gốc còn lại đã chuyển sang nợ quá hạn và phải chịu lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận.
Tính đến ngày 20/3/2019, ông Mai Duy Đ còn nợ VPBank tổng số tiền là
119.427.603 đồng, trong đó nợ gốc: 43.529.013 đồng; nợ lãi quá hạn: 48.091.642 đồng; Tiền phạt chậm trả lãi là: 27.806.948 đồng.
* Tại phiên tòa VPBank rút yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Mai Duy
Đ phải trả khoản tiền phạt chậm trả lãi là 27.806.948 đồng. Đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề cụ thể như sau:
- Buộc ông Mai Duy Đ phải trả tổng số tiền tính đến hết ngày 20/3/2019 là
91.620.655 đồng. trong đó: Nợ gốc là: 43.529.013 đồng; Nợ lãi là: 48.091.642 đồng.
- Kể từ ngày 21/3/2019 ông Mai Duy Đ còn phải trả cho ngân hàng
VPBank khoản tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc chưa trả cho đến khi thanh toán hết tiền nợ gốc theo mức lãi suất quá hạn được quy định trong hợp đồng tín dụng nêu trên.
* Tại bản tự khai ngày 17/01/2019 cũng như tại phiên tòa, ông Mai Duy
Đ trình bày:
Ngày 13/7/2016, VPBank và ông đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 20160713-
101066 – 0592 (LD 619500528). Theo đó, VPBank cho ông vay số tiền là 52.500.000 đồng; Thời hạn vay là 36 tháng tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên (13/7/2016); Mục đích vay: Tiêu dùng; Mức lãi suất cho vay: 40%/năm. Ông Mai
Duy Đ cũng thừa nhận: Quá trình thực hiện hợp đồng, ông đã trả được nợ gốc và
nợ lãi theo thỏa thuận từ ngày 13/7/2016 đến ngày 30/9/2017 là: 8.970.987 đồng nợ
gốc và 17.068.780 đồng tiền lãi. Kể từ ngày 30/9/2017 cho đến nay ông không trả nợ
gốc và nợ lãi.
Nay do ông không có khả năng trả ngay toàn bộ khoản nợ theo yêu cầu
của VPBank nên ông đề nghị VPBank gia hạn thời hạn trả nợ cụ thể như sau:
Mỗi tháng trả 1.000.000 đồng nợ gốc. Sau khi trả hết nợ gốc thì ông đề nghị
VPBank miễn cho ông toàn bộ khoản nợ lãi. Về các điều khoản của hợp đồng tín
dụng đã ký kết, ông không có ý kiến gì vì việc ký kết hợp đồng tín dụng do ông
hoàn toàn tự nguyện. Ông cũng không có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi
kiện của VPBank. Tuy nhiên ông đề nghị Tòa án xem xét về mức lãi của hợp
đồng là quá cao.
Đối với việc VPBank rút một phần yêu cầu khởi kiện tại phiên Tòa ông
không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu
quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tham gia tố tụng,
của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận một yêu cầu khởi kiện của VPBank tại phiên tòa; đình chỉ yêu cầu khởi
kiện của VPBank về việc buộc ông Mai Duy Đ phải trả khoản tiền phạt chậm trả
lãi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ; căn cứ kết quả thẩm tra
chứng cứ tại phiên tòa; căn cứ việc hỏi tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận
công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng
xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (Sau đây viết tắt là “VPBank”) có
đăng ký kinh doanh số 0100233583 do Sở Kế hoạch đầu tư Thành phố Hà Nội
cấp lần đầu ngày 08/9/1993, thay đổi lần thứ 39 ngày 17/11/2017, địa chỉ trụ sở
chính tại: số 89 phố L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Người đại diện
theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch Hội Đồng quản trị.
Bị đơn là ông Mai Duy Đ, sinh năm 1974, trú tại: Thôn K, xã U, huyện Đ,
Thành phố Hà Nội.
Hai bên đã cùng nhau ký hợp đồng tín dụng để vay vốn nhằm mục đích
vay tiêu dùng. Như vậy, cả hai bên đều đủ tư cách và có quyền ký kết, thực hiện
các hợp đồng dân sự và tham gia tố tụng để giải quyết tranh chấp phát sinh từ
các hợp đồng đã ký kết. Tòa án nhân dân huyện Đông Anh thụ lý và giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ngày 07/7/2016, VPBank và ông Mai Duy Đ đã ký kết hợp đồng tín dụng
số 20160713- 101066 – 0592(LD 619500528) với mức tiền vay số tiền là 52.500.000 đồng; Thời hạn vay là 36 tháng tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên (13/7/2016); Mục đích vay: Tiêu dùng; Mức lãi suất cho vay: 40%/năm.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của VPBank yêu cầu ông Mai
Duy Đ phải trả toàn bộ nợ gốc và nợ lãi tính đến hết ngày 20/3/2019 là 91.620.655 đồng.
Xét thấy: Đây là hợp đồng tín dụng có thỏa thuận lãi trong hạn, lãi quá
hạn. Hợp đồng kết thúc khi bên vay thực hiện xong toàn bộ các nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và nợ lãi theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Đến nay ông Mai Duy Đ vẫn chưa trả hết nợ gốc và nợ lãi cho VPBank. Theo bản giải trình về cách thức tính lãi trong hạn, lãi quá hạn và điều chỉnh mức lãi trong hạn của hợp đồng tín dụng nêu trên là phù hợp theo cách tính lãi suất nợ quá hạn được quy định tại Luật các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.
Do vậy buộc ông Mai Duy Đ phải trả cho VPBank tổng số tiền tính đến hết
ngày 20/3/2019 là 91.620.655 đồng. trong đó: Nợ gốc là: 43.529.013 đồng; Nợ lãi là: 48.091.642 đồng.
Kể từ ngày 21/3/2019 ông Mai Duy Đ còn phải tiếp tục trả cho VPBank
khoản tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc thực tế chưa trả với mức lãi suất quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi trả xong nợ gốc.
Về việc VPBank rút một phần yêu cầu khởi kiện:
Tại phiên tòa, VPBank đã rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Mai Duy Đ phải trả khoản tiền phạt chậm trả lãi là 27.806.948 đồng: Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, và không trái pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu này là hoàn toàn phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Mai Duy Đ phải chịu tiền án phí sơ thẩm là: 91.620.655 đồng x 5% =
4.581.000 (bốn triệu, năm trăm tám mươi mốt nghìn) đồng, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
- Hoàn trả lại VPBank 1.896.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền số
AB/2010/3978 ngày 26/12/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 3 Điều 144;
Điều 147; khoản 2 Điều 244; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015.
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Xử:
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ
phần V (VPBank) đối với ông Mai Duy Đ.
[2] Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V về
việc buộc ông Mai Duy Đ phải trả khoản tiền phạt chậm trả lãi.
[3] Buộc ông Mai Duy Đ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V tổng
số tiền tính đến ngày 20/3/2019 là: 91.620.655 đồng (chín mươi mốt triệu, sáu
trăm hai mươi nghìn, sáu trăm năm mươi lăm) đồng. Trong đó nợ gốc là:
43.529.013 đồng; Nợ lãi là: 48.091.642 đồng.
Buộc ông Mai Duy Đ tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa
trả, kể từ ngày 21/3/2019 theo mức lãi suất quá hạn do các bên thỏa thuận trong
Hợp đồng tín dụng số số 20160713- 101066 – 0592(LD 619500528) ngày
07/7/2016 cho đến khi thanh toán hết nợ gốc cho Ngân hàng Thương mại Cổ
phần V.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án
dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật
thi hành án dân sự.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Mai Duy Đ phải chịu 4.581.000 đồng (bốn triệu, năm trăm tám
mươi mốt nghìn) đồng để sung công quỹ Nhà nước.
- Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần V 1.896.000 (một triệu, tám
trăm chín mươi sáu nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số AB/2010/0003978 ngày 26/12/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
[5] Án xử sơ thẩm công khai, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và ông
Mai Duy Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Phi Hùng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Phi Hùng |