- Tranh chấp gì? án dân sự — "1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ch, sinh năm 1968 Địa chỉ: Ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Đại diện theo ủy quyền của…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ch đối với ông Bùi Thanh Ph, bà Quách Hạnh Ng về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán” chăn nuôi gia súc, gia cầm.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2019/DS-ST Ngày: 16-04-2019 “V/v tranh chấp Hợp đồng mua bán” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Văn Hậu
2. Ông Nguyễn Văn Miên
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Văn Hữu Tuấn- kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 tháng 04 năm 2019 và ngày 16 tháng 04 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2018/TLST-DS ngày 17 tháng 04 năm 2018 về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2018/QĐXX-ST ngày 17 tháng 10 năm 2018; các Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2018/QĐST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2019/QĐST-DS ngày 15 tháng 03 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ch, sinh năm 1968
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện theo ủy quyền của bà Ch: Anh Nguyễn Văn U, sinh năm 1984 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp Trà Do, xã Lâm Khiết, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
2. Đồng bị đơn: Ông Bùi Thanh Ph và Bà Quách Hạnh Ng (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp 18, xã Vĩnh Bình, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 04 năm 2018, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Nguyễn Văn U trình bày: Ông Bùi Thanh Ph và bà Quách Hạnh Ng đã mua thiếu thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm của bà Lê Thị Ch nhiều lần, tính đến ngày 23/11/2017, ông Ph và bà Ng còn nợ tiền thức ăn chăn nuôi của bà Ch là 405.123.000 đ ( Bốn trăm lẻ năm triệu một trăm hai mươi ba nghìn đồng). Việc mua bán giữa hai bên có thể hiện bằng sổ mua hàng, từ khi thiếu nợ tiền thức ăn chăn nuôi đến nay ông Ph và bà Ng chưa trả cho bà Ch được khoản nào. Nay ra Tòa, đại diện cho theo ủy quyền của bà Lê Thị Ch yêu cầu ông Bùi Thanh Ph và bà Quách Hạnh Ng trả cho bà Ch số tiền 405.123.000 đ ( Bốn trăm lẻ năm triệu một trăm hai mươi ba nghìn đồng), không yêu cầu tính lãi. Đại diện cho bà Ch yêu cầu ông Ph và bà Ng trả lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án. Ngoài ra, anh Út không còn ý kiến trình bày gì thêm.
Đối với ông Bùi Thanh Ph và bà Quách Hạnh Ng không có lời trình bày tại Toà án, đồng thời, bản thân ông Ph, bà Ng cũng không có cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu của bà Lê Thị Ch theo quy định của pháp luật. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng qui định của thủ tục tố tụng dân sự cho ông Phong, bà Ng nhưng ông Ph, bà Ng không đến Tòa án. Vì vậy, theo quy định của pháp luật nếu bị đơn không cung cấp, tài liệu, chứng cứ cũng như ý kiến của mình thì Toà án căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết.
* Ý kiến của Viện kiểm sát:
- Về tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung đề xuất:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Ch đòi ông Bùi Thanh Ph và bà Quách Hạnh Ng trả tiền mua thức ăn chăn nuôi heo thiếu là 405.123.000 đ ( Bốn trăm lẻ năm triệu một trăm hai mươi ba nghìn đồng).
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Bùi Thanh Ph và bà Quách Hạnh Ng phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán giữa nguyên đơn là bà Lê Thị Ch và đồng bị đơn ông Bùi Thanh Ph và bà Quách Hạnh Ng. Bà Ng và ông Ph có nơi cư trú tại ấp 18, xã Vĩnh Bình, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự , vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu.
Tại phiên tòa, ông Bùi Thanh Ph và bà Quách Hạnh Ng vắng mặt. Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng dân sự cho ông Ph, bà Ng theo quy định, nhưng ông Ph, bà Ng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án: Trong đơn khởi kiện bà Lê Thị Ch xác định: Ông Bùi Thanh Ph và bà Quách Hạnh Ng đã mua thiếu thức ăn chăn nuôi của bà Lê Thị Ch nhiều lần, bà Ch có giao kèo với bà Ng và ông Ph về việc mua bán thức ăn chăn nuôi với nội dung là bán thức ăn chăn nuôi trong vòng 04 tháng là phải thanh toán 50% tổng số tiền thức ăn đã bán, việc giao kèo giữa hai bên có thể hiện bằng sổ mua bán, tính đến ngày 23/11/2017, ông Ph và bà Ng còn nợ tiền thức ăn chăn nuôi của bà Ch là 405.123.000 đ ( Bốn trăm lẻ năm triệu một trăm hai mươi ba nghìn đồng), bà Ch có đòi ông Ph, bà Ng nhiều lần nhưng đến nay ông Ph và bà Ng vẫn không trả cho bà. Vào ngày 25/3/2018, bà có gởi đơn đến Ban nhân dân ấp 18, xã Vĩnh Bình, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu để tiến hành hòa giải việc tranh chấp mua bán giữa bà Ch và ông Ph, bà Ng. Tại buổi hòa giải, ông Ph thừa nhận có mua thức ăn chăn nuôi thiếu của bà Ch, nhưng thời gian qua do vợ chồng ông Ph chăn nuôi bị thua lỗ, không có khả năng thanh toán, ông Ph hứa 04 tháng ông sẽ trả cho bà Ch số tiền là 10.000.000 đồng.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh ông Nguyễn Văn L là trưởng ấp, đồng thời, cũng là tổ trưởng tổ hòa giải của ấp 18, xã Vĩnh Bình hòa giải việc tranh chấp mua bán giữa bà Ch và ông Ph, bà Ng vào ngày 25/3/2018 và các thành viên hòa giải là ông Châu Văn H, ông Ngô Văn T thể hiện: Vào ngày 25/3/2018, tại trụ sở ấp 18, xã Vĩnh Bình có tiến hành tổ chức hòa giải việc tranh chấp mua bán giữa bà Ch và ông Ph, bà Ng, ông L xác định: tại buổi hòa giải, ông Ph thừa nhận có mua thức ăn chăn nuôi thiếu của bà Ch với số tiền 405.123.000đ và ông Ph có trực tiếp ký tên vào biên bản hòa giải. Ngoài ra, Tòa án cũng tiến hành xác minh bà Nguyễn Thị O là mẹ ruột của ông Ph, đồng thời, là mẹ chồng của bà Ng: bà O cũng xác định ông Ph và bà Ng có mua thiếu thức ăn chăn nuôi do bà Ch làm chủ, theo bà biết thì ông Ph và bà Ng hiện tại còn thiếu bà Ch khoảng hơn bốn trăm triệu đồng, đến nay chưa trả hay đã trả xong rồi thì bà không biết.
Mặc khác, tại phiên tòa đại diện phía nguyên đơn có cung cấp thêm các chứng cứ mới là các bản đối chiếu công nợ vào các ngày 13/3/2017; 14/6/2017; 16/6/2017; 23/11/2017 có chữ ký của bà Quách Hạnh Ng và ông Bùi Thanh Ph, còn nợ bà Ch số tiền là 405.123.000 đồng.
Do đó, hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ mua bán thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm giữa bà Lê Thị Ch và ông Bùi Thanh Ph, bà Quách Hạnh Ng là hoàn toàn có xảy ra trên thực tế. Tuy nhiên, quá trình mua bán, bà Ch cho rằng ông Ph, bà Ng không thanh toán tiền cho bà nên hai bên xảy ra tranh chấp.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng dân sự cho ông Phong, bà Ng theo quy định, nhưng ông Ph, bà Ng vẫn vắng mặt xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời, ông Ph, bà Ng cũng không nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ và văn bản trình bày ý kiến phản đối của mình đối với yêu cầu của bà Ch. Do vậy, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì vậy, nay ra tòa đại diện cho bà Ch yêu cầu ông Ph, bà Ng phải trả cho bà số tiền mua thức ăn chăn nuôi là 405.123.000đ. Xét thấy, cũng như vừa phân tích trên, việc mua bán thức ăn gia súc, gia cầm giữa bà Lê Thị Ch và ông Bùi Thanh Ph, bà Quách Hạnh Ng và việc ông Ph, bà Ng có thiếu tiền mua thức ăn chăn nuôi của bà Ch là hoàn toàn có xảy ra trên thực tế, cũng như thời điểm ông Ph, bà Ng mua thức ăn gia súc, gia cầm của bà Ch thì ông Ph, bà Ng là vợ chồng, nên xét yêu cầu của bà Ch là hoàn toàn phù hợp với quy định tại các Điều 430, 440 Bộ luật dân sự. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Ch, do đó, buộc ông Bùi Thanh Ph, bà Quách Hạnh Ng có trách nhiệm thanh toán cho bà Ch số tiền 405.123.000đ.
Về án phí: Ông Bùi Thanh Ph, bà Quách Hạnh Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Án phí sơ thẩm Ông Bùi Thanh Ph, bà Quách Hạnh Ng phải chịu nộp là 20.000.000 đồng + 4% x (405.123.000đ - 400.000.000 đ) = 20.204.920 đồng.
Bà Lê Thị Ch không phải chịu án phí, số tiền mà bà đã tạm ứng dự nộp là 5.051.000 đồng, sẽ được hoàn lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ch đối với ông Bùi Thanh Ph, bà Quách Hạnh Ng về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán” chăn nuôi gia súc, gia cầm.
2. Buộc ông Bùi Thanh Ph và bà Quách Hạnh Ng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Lê Thị Ch số tiền là 405.123.000 đ (Bốn trăm lẻ năm triệu một trăm hai mươi ba nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Bùi Thanh Ph và bà Quách Hạnh Ng phải chịu án phí là 20.204.920 đồng, nộp án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình. Bà Lê Thị Ch đã dự nộp tạm ứng án phí là 5.051.000 đồng, biên lai thu số 0003984 ngày 16/4/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, báo cho đương sự có mặt biết, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hòa Bình; - Chi cục THADS huyện Hòa Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THÚY OANH |